Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Ủng hộ Chile mở rộng hợp tác với ASEAN

Featured

Ngày 22/3, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng Tổng thống Sebastian Pinera Echenique sang thăm chính thức Việt Nam

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao những bước phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực trong quan hệ hợp tác Việt Nam-Chile thời gian qua; cho rằng chuyến thăm của Tổng thống Sebastian Pinera Echenique sẽ là dấu mốc quan trọng, góp phần đưa quan hệ hai nước lên bước phát triển mới.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng Tổng thống Sebastian Pinera Echenique

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng Tổng thống Sebastian Pinera Echenique

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ quý báu mà Chile đã đã dành cho Việt Nam nhất là trong những năm tháng đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; khẳng định Việt Nam luôn mong muốn cùng với Chile đưa quan hệ hai nước phát triển sâu rộng, hiệu quả trên các lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho sự phát triển chung của cả hai nước.

Đề cập tới quan hệ hợp tác song phương Việt Nam-Chile, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng hai bên cần tiếp tục dành ưu tiên cho các lĩnh vực hợp tác mà tiềm năng, lợi thế còn lớn, nhất là hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư; đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nội dung của Hiệp định Thương mại tự do song phương Việt Nam-Chile; đưa kim ngạch thương mại hai chiều trong 5 năm tới tăng gấp nhiều lần so với hiện nay.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng khẳng định quan điểm ủng hộ Chile mở rộng quan hệ hợp tác với các nước ASEAN, đề nghị hai bên triển khai mạnh mẽ hơn cơ chế hợp tác liên Chính phủ hai nước, qua đó thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam-Chile trên các lĩnh vực nhất, là hợp tác về kinh tế.

Vui mừng được sang thăm Việt Nam, Tổng thống Sebastian Pinera Echenique bày tỏ tình cảm và lòng ngưỡng mộ đối với đất nước và nhân dân Việt Nam, truyền thống, văn hiến cũng như lòng quả cảm của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Tổng thống Cộng hòa Chile Sebastian Piñera Echenique.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Tổng thống Cộng hòa Chile Sebastian Piñera Echenique.

Tổng thống khẳng định Chile sẽ nỗ lực hết mình để Hiệp định Thương mại tự do song phương Việt Nam-Chile được thực thi có hiệu quả; đồng thời sẽ tạo các điều kiện thuận lợi cho hàng hóa của Việt Nam dễ dàng hơn trong thâm nhập vào thị trường Chile.

Bên cạnh tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, Chile mong muốn tăng cường hơn nữa hoạt động đối thoại chính trị, văn hóa với Việt Nam .

Hai nhà lãnh đạo cũng chia sẻ quan điểm hai nước cần tiếp tục ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn quốc tế; cùng nhau tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, phát sinh trong quá trình hợp tác, đầu tư; tăng cường hoạt động xúc tiến các chương trình hợp tác mới giữa hai nước trên các lĩnh vực./.

PV

Tăng lương để… phòng chống tham nhũng?

Featured

Tăng lương cho những người có điều kiện tham nhũng (người có chức quyền) liệu có giải quyết được vấn nạn này không? Tăng lương rồi mà vẫn tham nhũng, thì làm gì nữa? Chả lẽ lại…tăng lương tiếp?

Tư duy logic hình thức?

Ai tham nhũng? Người có chức quyền. Vì sao họ tham nhũng? Lương thấp, lương không thực chất.

Và vì thế phải tăng lương cho họ. Tăng thu nhập cho họ ở mức khá. Để phòng chống tham nhũng.

Về hình thức, tư duy này có vẻ hợp logic: Quan chức thu nhập thấp, dễ tham nhũng. Lương bổng khá hơn, sẽ bớt tham nhũng đi. Nhưng thực chất có phải vậy không?

Tăng lương có chống được tham nhũng? Ảnh minh họa

Tăng lương có chống được tham nhũng? Ảnh minh họa

Người viết bài, nhớ tới ngành giáo dục. Một dạo cũng lý luận na ná kiểu này. Tăng thu nhập cho giáo viên, để tăng chất lượng. Nhưng thu nhập tăng đủ kiểu, mà chất lượng giáo dục, giờ thế nào, ai cũng có thể trả lời!

Chủ đề lương cho viên chức, công chức đã được hơn một lần cải tiến, cải cách. Mục đích đều nhằm làm sao để những người làm công ăn lương sống được, sống tốt, ít nhất nuôi được bản thân và một đứa con.

Không chỉ dừng ở đó mà lương còn để đánh giá trình độ năng lực, để người được hưởng lương tận tụy với công việc được giao, để thực thi đúng pháp luật, để thực sự là người phục vụ nhân dân…

Tổng kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh Phòng chống tham nhũng, chắc thấy nổi lên vấn đề chống tham nhũng chưa có hiệu quả, nên giải pháp sẽ là tăng lương cho người có chức quyền.

Nhìn vào bảng lương mà Chính phủ trả cho “người làm thuê” cho nhân dân (viên chức, công chức) thì thấy lương cho người có chức quyền không thấp (so với mặt bằng chung của xã hội).

Tăng lương

Tăng lương

Chưa kể, lương và thu nhập là hai khái niệm khác nhau. Thế nhưng tham nhũng vẫn cứ càng lúc càng tăng. Tham nhũng đã thành “quốc nạn”. Tham nhũng đã được gọi là giặc.

Vậy thì tăng lương cho những người có điều kiện tham nhũng (người có chức quyền) liệu có giải quyết được vấn nạn này không? Tăng lương rồi mà vẫn tham nhũng, thì làm gì nữa? Chả lẽ lại…tăng lương tiếp?

Trị chứng, không trị căn nguyên

Rõ ràng, giải pháp này (tăng lương), phác đồ điều trị chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng. Không thể chữa khỏi bệnh. Bệnh tham nhũng nằm ở những nguyên nhân khác.

Tham nhũng vốn là thuộc tính con người. Cơ chế quản lý vận hành càng có nhiều sơ hở, khiếm khuyết, tham nhũng càng có cơ “chui sâu, leo cao”.

Vậy thì phải làm sao? Kinh nghiệm phòng chống tham nhũng từ nhiều quốc gia phát triển, từ nhiều quốc gia láng giềng cũng đã cho ta nhiều giải pháp tốt. Vấn đề là chúng ta có làm không, có dám làm đến nơi đến chốn không. Hay chỉ “đánh trống bỏ dùi”, chỉ “đánh rắn giữa khúc”…

Đây là một cuộc chiến không kém cam go. Chẳng thế chúng ta đã dùng chữ “giặc nội xâm”. Tham nhũng hiện nay tràn lan, khắp mọi nơi. Đâu phải chỉ là người có chức quyền nắm giữ trọng trách, mới tham nhũng, mà một nhân viên bảo vệ, một nhân viên cảnh sát…vẫn có thể tham nhũng.

Vậy thì giải quyết ra sao?

Người viết bài thiển nghĩ, nếu ngay tháng sau, Chính phủ tăng lương khởi điểm cho y tá 5 triệu đồng/ tháng, cho nhân viên cảnh sát giao thông, cảnh sát phường 10 triệu đồng/ tháng, và tất cả đều tăng, thì tham nhũng vẫn cứ là bài ca với điệp khúc “cho ta trèo hái mỗi ngày”

Tăng lương

Tăng lương

Phòng chống tham nhũng cần những giải pháp khác. Mà trước hết rất cần một biện pháp mạnh đối với những người nắm trọng trách, có nguy cơ tham nhũng hơn nhiều người khác.

Quan trọng hơn phải làm sao có cơ chế kiểm soát tốt những người có chức quyền, hạn chế quyền lực lâu nay khá vô biên của họ.

Đừng để tồn tại hiện tượng phổ biến là cấp dưới luôn luôn phải chấp hành cấp trên, ngay cả khi nhận thấy cấp trên sai, để bao chuyện đau lòng như đi tù thay, hoặc cùng đi tù với họ.

Cuối cùng, để làm tốt mọi việc trong đó có phòng chống tham nhũng, để một Việt Nam phát triển tốt sau 2020 thì giải pháp của mọi giải pháp là công khai minh bạch, phải cho dân biết, dân bàn…, phải dân chủ.

Vì thế, tăng lương cho người có chức quyền không phải là biện pháp căn bản giải quyết nạn tham nhũng. Mà thậm chí có khi lại tạo ra bất công mới, ở góc độ lao động và đãi ngộ.

Theo Đinh Việt Bình
Tuần Việt Nam

Lộ mặt thủ phạm “làm giá” trứng gà

Featured

Sau khi các cơ quan chức năng vào cuộc, CP Việt Nam đã phải thừa nhận việc tăng giá trứng thời gian qua là bất hợp lý và sẽ sửa sai trong thời gian tới.Ngày 14/1, Sở Công Thương TPHCM đã làm việc với Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam về việc giá trứng tăng cao những ngày qua. Tại buổi họp này, Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam cho rằng, việc tăng giá trứng thời gian qua là bất hợp lý và sẽ sửa sai trong thời gian tới.

Theo đó, đại diện C.P cho rằng, chính sách điều chỉnh giá của C.P là theo cung cầu thị trường, trong khi đó, thời gian qua nhu cầu tiêu thụ các loại trứng gia cầm trên thị trường tăng mạnh nhân dịp lễ, tết. Do đó, C.P đã nhiều lần tăng giá bán nhằm thu lợi nhuận.

Lộ mặt thủ phạm ‘làm giá’ trứng gà

Lộ mặt thủ phạm ‘làm giá’ trứng gà

Tuy nhiên, thông tin từ Sở Công Thương TPHCM, từ tháng 12/2012 đến nay, lượng trứng nhập khẩu, sản xuất vẫn đủ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Hơn nữa, giá các loại thức ăn chăn nuôi không hề tăng nên việc tăng giá của C.P là bất hợp lý.

Thống kê của Sở Công Thương TPHCM cũng cho biết, từ sau Tết dương lịch 2013, giá trứng trên thị trường tăng liên tục, từ 2.000 – 3.000 đồng/trứng. Cụ thể, sau Tết dương lịch, trứng gà tại các chợ truyền thống dao động ở mức 2.400 – 2.700 đồng/trứng, trứng vịt từ 3.300 – 3.500 đồng/trứng. Hiện nay, giá trứng gà đã vọt lên 2.800 – 3.000 đồng/trứng. Do giá trứng bình ổn giá vẫn ổn định ở mức 2.350 đồng/trứng nên đã xảy ra hiện tượng nhiều người vào siêu thị gom hết trứng giá rẻ để ra ngoài bán hưởng chênh lệch.

Trước đó, CP Việt Nam đã có hành động đơn phương tăng giá trứng gà bị nhiều siêu thị phản ứng.

Saigon Co.op cho biết, đầu tháng 1-2013, Co.op Mart nhận được đề nghị của Công ty CP về việc tăng giá bán trứng tại siêu thị. Theo giải thích của CP, do chi phí nguyên liệu đầu vào tăng nên buộc phải tăng giá trứng gia cầm. Sau khi nhận được thông báo tăng giá từ CP, hệ thống Co.op Mart nhận thấy CP tăng giá bất hợp lý nên đã ngưng nhập trứng của đơn vị này.

Theo các đơn vị kinh doanh, việc một số công ty chăn nuôi lớn như CP, Emivest lấy lý do giá thức ăn chăn nuôi tăng thời gian qua để tăng giá bán trứng là không hợp lý.

Thống kê từ các đại lý phân phối thức ăn chăn nuôi, từ ngày 13-10-2012 đến 13-1-2013 giá thức ăn chăn nuôi chỉ tăng một lần và CP là một trong những đơn vị đầu tiên tăng giá với mức tăng 600 đồng/kg với cám đậm đặc và 260 đồng/kg với cám hỗn hợp. So với giá bán khoảng 10.000 đồng/kg thì mức tăng giá hồi cuối tháng 12 chỉ tác động làm tăng 2-5% giá sản phẩm chăn nuôi.

Thế nhưng, cũng trong khoảng thời gian trên, giá bán các loại trứng của các công ty chăn nuôi đã có mức tăng cực nhanh, từ 1.300 đồng/quả lên 2.600 đồng/quả.

Gần đây iá bán trứng của các chủ trại chăn nuôi gia công cho Công ty CP và Công ty Emivest trong khoảng một năm qua vẫn ổn định ở mức 1.550 đồng/quả. Như vậy, nếu tính chi phí vận chuyển và đóng gói thì giá thành sản xuất trứng của các công ty vào khoảng 1.700 đồng/quả trong khi giá bán ngày 13-1 tại kho của các công ty này đã là 2.500 đồng/quả.

(BVN)

Ba tàu chiến Trung Quốc đang làm gì trên Biển Đông?

Featured

Nhật báo Nhân dân hôm qua (4–2) đưa tin, ba tàu chiến thuộc Hạm đội Bắc Hải (Trung Quốc) đã vượt qua eo biển Bashi, tiến vào Biển Đông để tuần tra và tiến hành diễn tập trên vùng biển này.

Nhật báo Nhân dân dẫn nguồn tin hải quân Trung Quốc cho biết một Hạm đội thuộc Quân đội nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tiến vào vùng lãnh hải ở Biển Đông để làm nhiệm vụ tuần tra và diễn tập.

Hạm đội gồm ba tàu khu trục tên lửa Thanh Đảo, Yên Đài, Diêm Thành đã rời khỏi cảng quân sự TP Thanh Đảo, vượt 1.200 hải lý đi ngang qua eo biển Bashi và tiến vào Biển Đông sau năm giờ đồng hồ.

Tàu chiến của Hạm đội Bắc Hải, Trung Quốc đã tiến vào vùng biển Đông.

Eo biển Bashi nằm giữa Đài Loan (Trung Quốc) và đảo Luzon của Philippines. Đây là tuyến đường biển quốc tế nối liền Biển Đông và Thái Bình Dương.

Theo Nhật báo Nhân dân, hạm đội của Hải quân PLA sẽ tuần tra và tiến hành đợt diễn tập trên vùng biển Đông trong vài ngày tới.

Báo chí Philippines cũng đã đưa tin về hoạt động này của Hạm đội Bắc Hải và bày tỏ sự quan ngại trước động thái “không bình thường” của hải quân Trung Quốc.

NT (NBND)

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Đại sứ Nhật Bản

Featured

Chiều 17/9, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Đại sứ Nhật Bản Tanizaki Yasuaki tới chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.

 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Đại sứ Nhật Bản Tanizaki Yasuaki tới chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Đại sứ Nhật Bản Tanizaki Yasuaki tới chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.

Đánh giá cao những đóng góp tích cực của Đại sứ Tanizaki Yasuaki trong thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Nhật Bản thời gian qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: Hai dân tộc, hai đất nước Việt Nam và Nhật Bản có quan hệ hợp tác hữu nghị, có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt là tương đồng về văn hóa; có nhiều tiềm năng và lợi thế có thể bổ trợ cho nhau trong quá trình hợp tác và phát triển.

Trên cơ sở đó, 40 năm qua kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt từ khi hai nước nâng tầm quan hệ lên đối tác chiến lược, quan hệ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản đã phát triển mạnh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, ODA, giáo dục-đào tạo, khoa học-kỹ thuật, văn hóa… Những kết quả đạt được không chỉ mang lại lợi ích cho Việt Nam và Nhật Bản, mà còn đóng góp thiết thực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam là coi trọng và mong muốn nỗ lực hết mình cùng với Nhật Bản đưa quan hệ hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả vì lợi ích của cả hai bên.

Với tinh thần chung như vậy, Việt Nam mong muốn làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác kinh tế với Nhật Bản; đề nghị Nhật Bản duy trì ODA cho Việt Nam ở mức cao hơn. Việt Nam cam kết quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA của Nhật Bản để phục vụ cho các mục tiêu phát triển.

Đồng thời đề nghị hai bên hợp tác chặt chẽ với nhau trong đàm phán Hiệp định TPP, cũng như đưa hoạt động hợp tác về giáo dục-đào tạo, quốc phòng-an ninh giữa hai nước đi vào sâu rộng và hiệu quả hơn.

Thủ tướng khẳng định, Việt Nam luôn sẵn sàng mở rộng hợp tác về nông nghiệp với Nhật Bản, cung cấp cho Nhật Bản những sản phẩm nông nghiệp mà Nhật Bản có nhu cầu…

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mong muốn Đại sứ Tanizaki Yasuaki dù trên bất kỳ cương vị công tác nào cũng luôn là cầu nối hữu nghị, vun đắp cho mối quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Nhật Bản.

Đại sứ Tanizaki Yasuaki khẳng định, những kết quả đạt được đã mang lại lợi ích thiết thực cho sự phát triển chung của cả hai nước; sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa hai nước, hai dân tộc ngày càng được tăng cường.

Bên cạnh thúc đẩy mạnh mẽ hơn hoạt động hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, Đại sứ Tanizaki Yasuaki đề nghị hai bên tiếp tục quan tâm tăng cường hợp tác về nông nghiệp, quốc phòng-an ninh, phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau ở các diễn đàn quốc tế và khu vực…

Nhân dịp này, Đại sứ Tanizaki Yasuaki cảm ơn Chính phủ Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để Đại sứ hoàn thành nhiệm vụ công tác của mình trong nhiệm kỳ 3 năm qua tại Việt Nam. Đại sứ khẳng định sẽ tiếp tục có những đóng góp tích cực vun đắp cho mối quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam và Nhật Bản

(Chính Phủ)

Thói đạo đức giả của Mỹ và phương Tây

Các nước lớn như Mỹ, Anh, Đức hay Trung Quốc luôn vỗ ngực tự hào rằng với vị thế là đàn anh của thế giới, họ có nhiệm vụ làm cho thế giới “trật tự”, “công bằng”, “thịnh vượng” và “nhân ái” hơn. Nhưng thực chất thì sao?

Một nội dung trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994, các nước phương Tây yêu cầu phải tăng cường quyền sở hữu trí tuệ. Họ nói rằng, chỉ khi các công ty dược phẩm Mỹ và các nước phương Tây khác có quyền ngăn chặn các công ty ở Ấn Độ và Brazil “ăn cắp” những tài sản trí tuệ của họ, nhờ thế họ sẽ thêm nguồn lợi nhuận từ các thị trường này thì mới tạo động lực để sáng tạo. Nhưng thực tế thì sao?

Giá thuốc tại các nước nghèo hoặc đang phát triển thậm chí còn cao hơn tại chính Mỹ và EU, thì người dân nghèo có đủ tiền mua không? Có thể hưởng cái quyền “được chăm sóc y tế” nữa hay không? Trong khi trước GATT, họ được mua những thuốc với giá chỉ bằng 1/3 cho tới 1/5, từ các công ty “ăn cắp”. Vì lợi ích dân tộc, Mỹ hay EU sẵn sàng đánh đổi “nhân quyền” của người dân các nước nghèo.

Chính Joseph E. Stiglitz – Nguyên Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới và Chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế của cựu Tổng thống Bill Clinton – đã phải thốt lên trong cuốn sách “Toàn cầu hóa và những mặt trái” rằng “Những người… buộc tội các nước phương Tây là đạo đức giả và họ hoàn toàn đúng”. Ông cũng tâm sự thêm “Tôi đã đấu tranh mạnh mẽ chống lại thói đạo đức giả này… nhưng thường không thành công”.

Thói đạo đức giả này khiến cho bao nhiêu người lầm tưởng và trở thành con rối trong tay họ?

Những bất ổn tại Ukraine hiện nay chính là bài học rõ ràng nhất. Một cuộc bầu cử sẽ giải quyết tất cả. Nhưng nó vẫn chưa xảy ra. Bởi vì “phần nhiều là người Mỹ và một bộ phận người châu Âu lo ngại rằng cấu trúc liên bang của Ukraina chỉ tăng cường thêm ảnh hưởng Nga ở vùng đông và đông nam. Khi đấy, Washington sẽ không thể tự do điều khiển các lãnh thổ Ukraina và nắm nhiều cơ hội hành động” – bà Tamara Guzenkova, người đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu về CIS và các nước Baltic nhận xét.

Cảnh sát Ukraine đụng độ với người biểu tình tại tòa nhà chính phủ thành phố Kharkiv, miền đông Ukraine ngày 13/4. (Ảnh: AFP)

Nhân quyền (ở đây là quyền được bầu cử tự do, công bằng theo Công ước châu Âu về Nhân quyền) của người dân Ukraine chẳng mang lại lợi ích cho các nước phương Tây, vì thế họ sẵn sàng chà đạp lên nó. Và những nhà lãnh đạo hiện tại ở Kiev – những người lên nắm quyền nhờ một cuộc đảo chính vũ trang – đang là những con rối trong tay Mỹ và EU, giúp họ đạt được mục đích.

“Những kẻ cầm quyền bất hợp pháp tại Ukraina đang hy vọng sẽ khôi phục lại cái trật tự mà chính họ đã bất chấp đạo lý chà đạp lên để nắm lấy chính quyền sau một cuộc nổi dậy vũ trang. Và bây giờ họ đang phải chịu hậu quả gậy ông đập lưng ông.” – Thủ tướng Nga Medvedev nhận xét.

Phe biểu tình thân Nga ở Donetsk (ảnh: Reuters)

Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov cáo buộc phương Tây “đạo đức giả” trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng Ukraine, đồng thời yêu cầu Washington giải thích về chuyến thăm bí mật của Giám đốc CIA John Brennan tới Kiev vào cuối tuần trước.

Những nghị sĩ, Nghị viện của Hoa Kỳ hay EU là những người đại diện, phục vụ cho lợi ích của người Mỹ. Vậy mà họ lại dư thời gian vàng bạc để “bảo vệ nhân quyền” – thứ mà họ sẵn sàng chà đạp ở Ukraine. Tốt đẹp bất thường như thế thật khó mà tin được. Chính vì thế, những người Việt Nam tự gọi là “nhóm vận động nhân quyền” nên tự đặt câu hỏi: “Mình có đang là một quân cờ trong tay các nước phương Tây không?” để tìm hướng đi thực sự đúng đắn.

Câu nói của Thủ tướng, Ngoại trưởng Anh Lord Palmerston hồi thế kỷ 19 “Không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích là vĩnh viễn” vẫn luôn là kim chỉ nam cho hành động của Mỹ, EU hay thậm chí cả Trung Quốc. Nhìn rõ bản chất để có cách hiểu, cách hành xử đúng đắn hơn là điều mà mỗi người dân, mỗi đất nước nghèo hay đang phát triển cần chú ý.

CTV Thanh Vân

(Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả)

Cựu TT Latvia: Tư tưởng Trần Nhân Tông cổ vũ tinh thần hòa hợp thế giới

“Chúng ta hoàn toàn có thể chung sống trên trái đất này bằng cách tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Đó là lí do tại sao tôi rất ủng hộ ý tưởng và mong muốn thành lập giải thưởng Trần Nhân Tông để cổ vũ cho tình yêu thương và hòa giải trên trái đất, để chúng ta có thể chung sống hòa hợp trong cùng một thế giới.”, cựu Tổng thống Latvia Vaira Vīķe-Freiberga nhấn mạnh tại Hội nghị Quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải và Yêu thương.

Những đồng điệu từ ước mơ hòa hợp dân tộc

Cựu tổng thống Latvia Vaira Vike-Freiberga sinh ra tại Riga, Latvia nhưng bà đã cùng cha mẹ rời khỏi đó sau chiến tranh Thế giới thứ 2. Phần lớn tuổi thơ trải qua trong các trại tị nạn ở Đức nên Vaira hiểu hơn ai hết giá trị của hòa bình và hòa hợp dân tộc.

Bà Vaira chia sẻ, khi còn là một cô bé sống trong trại tị nạn ở Đông Đức, bà đã có cơ hội đọc một cuốn sách của một tác giả Latvia viết về thời điểm lịch sử đó của đất nước Latvia. Khi đó, Latvia cũng đã có một vị vua đứng lên lãnh đạo nhân dân đứng lên chống lại ách xâm lược nhưng cuộc kháng chiến đó đã thất bại. Cả nhà vua và hàng nghìn người dân đã phải chạy trốn hoặc chịu đi đày khỏi đất nước của mình và không bao giờ xuất hiện lại trong lịch sử của đất nước tôi nữa.

Bà Vaira Vike - Freiberga- Cựu Tổng thống Latvia. Ảnh: Nguyễn Hoàng

“Khi ấy, tôi đã khóc nhiều ngày liền vì không thể tin được là đất nước của tôi đã thất bại như thế và tôi đã nghĩ rằng, nếu mình là một vị vua vào thời điểm đó, nhất định mình sẽ tìm ra phương cách nào đó lãnh đạo đất nước đứng lên chống lại ách xâm lược của ngoại bang.”, bà chia sẻ ước mơ thuở thiếu thời.

Chính vì thế, mọi người đều có thể hiểu được niềm hạnh phúc và tự hào của người phụ nữ Latvia với ý chí sắt đá, sau bao nhiêu năm tị nạn, lưu lạc ở nước ngoài, đã tìm đường trở về quê hương, ứng cử trở thành tổng thống.

Và bây giờ, ngay cả khi đã thôi giữ chức Tổng thống, Vaira Vike-Freiberga hoàn toàn có quyền giữ niềm tự hào ấy trọn đời khi bà từng được nhân dân Latvia tin cậy bầu giữ chức tổng thống hai nhiệm kỳ với tổng số phiếu tín nhiệm trên 90% ở lần bầu cử nhiệm kỳ Tổng thống thứ hai.

Vaira đã lãnh đạo thành công một đất nước bây giờ đã là một quốc gia tự do, đưa được nước mình gia nhập liên minh châu Âu và sau đó là khối quân sự Bắc Đại Tây Dương.

“Tôi tin rằng điều đó đã giúp cho đất nước tôi ở vào một thế an toàn, được bảo vệ, và hy vọng là sẽ không bao giờ phải trải qua những đau thương của chiến tranh thêm một lần nào nữa.”, bà Vaira tự tin khẳng định.

Ngay cả hiện nay, khi đã rời nhiệm kỳ Tổng thống, bà Vaira vẫn vừa một mặt vừa tích cực tham gia các hoạt đông quốc tế và lên tiếng bảo vệ tự do, bình đẳng và công bằng xã hội, mặt khác vẫn cùng cùng chồng là Imants Freibergs, giáo sư chuyên ngành khoa học máy tính giảng dạy tại Canada nghiên cứu và ‘số hóa’ các tác phẩm văn hóa dân gian như một phần của tình yêu quê hương, dân tộc.

“Một đất nước nhỏ bé chỉ có vài triệu dân như Latvia lại có kho tàng văn hóa nghệ thuật hết sức phong phú. Chúng tôi muốn lưu giữ các giá trị tốt đẹp đó”.

Ở bà Vaira, người ta vừa tìm thấy một ý chí chính trị ‘thép’, vừa nhận thấy tình yêu mãnh liệt với quê hương Latvia và các giá trị văn hóa truyền thống khi nghe bà hăng say nói về các công trình nghiên cứu văn học dân gian của mình.

Ấn tượng mạnh mẽ về vị vua hiền nước Việt

Với ý chí và tình yêu ấy, “Vaira Vike-Freiberga dường như là Trần Nhân Tông của đất nước Latvia thế kỷ 20″, nhà báo Nguyễn Anh Tuấn, Nguyên TBT VietNamNet, TBT Open Minds Union chia sẻ suy nghĩ.

Có lẽ vì những đồng điệu ấy, tuy mới tìm hiểu về Việt Nam và Trần Nhân Tông, bà Vaira có thể nói rõ ràng mạch lạc những ấn tượng, suy nghĩ của mình về vị vua hiền nước Việt, và tỏ ra thấu hiểu các giá trị nhân văn, tinh thần hòa giải, yêu thương trong tư tưởng Trần Nhân Tông.

Ảnh: Huân chương trao tặng cho Tổng thống Myanmar U Thein Sein và bà Aung San Suu Ky tại lễ trao giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải tại Harvard, Boston, Hoa Kì

Bà cũng bày tỏ sự khâm phục với quá khứ hào hùng của dân tộc Việt Nam với đầy hiểu biết lịch sử,”Tôi hiểu niềm tự hào của các bạn về một vị vua đã lãnh đạo nhân dân đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông không những một lần, hai lần mà những ba lần chỉ trong vòng một thế kỷ. Quân Nguyên – Mông khi đó là một đế chế mạnh nhất thế giới. Gót ngựa của họ không dừng lại ở châu Âu, châu Á nhưng đã bị đánh bại khi chạm đến biên giới Việt Nam”

Vào thế kỷ 13, khi Việt Nam đang trải qua những biến cố lịch sử lớn, thì đất nước Latvia cũng trải qua giai đoạn lịch sử tương đồng khi bị Tây Âu xâm lược. Cuộc thập tự chinh khi đó đã xâm lược cả một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm Latvia và Estonia ngày nay.

Theo bà Vaira, thời điểm khi đó nhân dân Latvia không thể đứng lên chống lại quân xâm lược bởi hai lí do. Thứ nhất, đó là sự thua kém về trình độ sản xuất vũ khí. Lí do thứ hai, mà cũng là điểm khác biệt lớn nhất giữa Latvia và đất nước Việt Nam vào thế kỷ 15, “đó là nhân dân Latvia đã không thể đoàn kết với nhau dưới sự lãnh đạo của một vị lãnh đạo sáng suốt”, bà Vaira khảng khái chia sẻ những ấn tượng về Trần Nhân Tông.

Có rất nhiều khía cạnh trong nhân cách con người Phật hoàng Trần Nhân Tông mà chúng ta đều cảm phục, nhưng theo Vaira, điều mà bà ấn tượng nhất là khi đang ở đỉnh cao của quyền lực, đang ngồi trên ngai vàng, Trần Nhân Tông vẫn sẵn sàng từ bỏ ngai vàng, từ bỏ đỉnh cao của quyền lực và sống cuộc sống của một người tu hành bình thường.

Thực tế ngày nay, nhiều vị lãnh đạo trên thế giới trở thành lãnh đạo qua bầu cử, khi ở đỉnh cao của quyền lực, có địa vị trong tay, họ không muốn đánh mất quyền lực đó, không muốn rời bỏ vị trí của mình mà cứ bám rễ ở đó, gây cản trở cho đất nước mình, mà một trong những ví dụ mà chúng ta vừa chứng kiến là sự sụp đổ của chế độ Gaddafi, Lybia.

Bà chia sẻ câu chuyện cá nhân khi giảng ở Budapest với cử tọa là nhiều sinh viên và lãnh đạo trẻ đến từ nhiều nước trên thế giới, trong đó có nhiều người đến từ châu Phi. Khi nghe bài giảng của bà Vaira, họ đã yêu cầu bà đến lục địa đen của họ và nói cho những nhà lãnh đạo ở Lục địa đen hiểu rằng, sau khi rời bỏ những vị trí tối cao của một đất nước, họ vẫn có thể có cuộc sống hạnh phúc, không cứ gì cứ phải bám lấy vị trí của mình bằng mọi cách.

Một danh nhân nổi tiếng thế giới đã từng nói “Tham nhũng quyền lực là tham nhũng tuyệt đối và những người đã có quyền lực luôn cảm thấy khó khăn khi phải từ bỏ quyền lực”.

“Chính vì thế, bài học từ Phật hoàng Trần Nhân Tông từ cách đây 7 thế kỷ, người đã sẵn sàng từ bỏ quyền lực tuyệt đố để trở về cuộc sống đời thường, đã để lại bài học cho nhiều nhà lãnh đạo thế giới.”, bà Vaira nhận định.

Đó không chỉ là vị vua đã đoàn kết nhân dân chống lại giặc ngoại xâm, mà còn là vị vua nhân từ, đức độ, không tìm cách trả thù sau những cuộc chiến, không trừng phạt những người dân thường đã đầu hàng quân địch bởi người hiểu họ quá sợ trước sức mạnh của quân địch. Phật hoàng Trần Nhân Tông không chỉ là nhà lãnh đạo chính trị, quân sự tài ba, mà ông còn là con người sống rất nhân văn, tâm linh, đó có lẽ là điều khiến ông quyết định trở thành nhà tu hành ở cuối đời.

“Tôi thấy đất nước Việt Nam của các bạn hết sức may mắn khi cách đây nhiều thế kỷ các bạn đã có một vị vua, vừa là một nhà thơ, một học giả, vừa là nhà nghiên cứu, một người rất vĩ đại, đã để lại nhiều tư tưởng, giá trị nhân văn cho các thế hệ sau. Những giá trị đó không chỉ đóng góp cho đất nước Việt Nam, mà còn có ý nghĩa với toàn nhân loại.”, Cựu Tổng thống Vaira mỉm cười kết luận.

Cam kết đồng hành với ý tưởng lớn

Sau khi tìm hiểu và nghe nhiều chia sẻ của giới học giả, chuyên gia trong nước về Phật hoàng Trần Nhân Tông, Cựu Tổng thống Vaira Vike-Freiberga khẳng định sự ủng hộ và đồng hành của bà với Giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải và Yêu thương.

Lịch sử châu Âu cũng cho thấy, các cuộc chiến thường là sự đối đầu của các tôn giáo. Thực tế không có tôn giáo nào là tuyệt đối cả, nên được hiểu theo những cách khác nhau dựa trên các nền tảng văn hóa khác nhau.

“Điều đó nghĩa là mỗi quốc gia, mỗi tôn giáo cần có quan điểm của riêng mình, không việc gì phải đối đầu với các tôn giáo, các quốc gia khác.”, bà Vaira nhấn mạnh

Để có sự hòa hợp này có lẽ không có gì là khó, chỉ cần nhìn nhận, tất cả mọi người đều là con người, đều có cha, có mẹ. Một khi đã sống trên trái đất này, chúng ta đều có thể là anh em của nhau. Chúng ta hoàn toàn có thể chung sống trên đất nước này bằng cách tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Các chính phủ của mỗi quốc gia cũng có thể tiến đến hòa bình trên toàn thế giới bằng cách tôn trọng sự khác biệt giữa các quốc gia và hoàn toàn có thể xây dựng đất nước mình chung sống trong hòa bình, tôn trọng nhân quyền, thực thi pháp quyền, không có ai đứng trên luật pháp và mỗi người dân đều có cơ hội có những đóng góp cho xã hội bằng những khả năng tốt đẹp nhất của bản thân mình.

“Đó chính là lí do tại sao tôi rất ủng hộ ý tưởng và mong muốn thành lập giải thưởng Trần Nhân Tông để cổ vũ cho tình yêu thương và hòa giải trên trái đất, để chúng ta có thể chung sống hòa hợp trong cùng một thế giới.”, nữ chính khách Latvia hào sảng nhấn mạnh trong tiếng vỗ tay không ngớt của các học giả và nhà nghiên cứu Việt Nam, như một sự khẳng định đồng hành và cổ vũ cho giải thưởng mang tên vị vua hiền, vị Phật hoàng nước Việt.

Tiến sỹ Vaira Vike-Freiberga là cựu tổng thống nước Cộng hòa Latvia nhiệm kì năm 1999 -2007. Bà đã thực hiện thành công chính sách đối ngoại của Latvia bằng cách hướng chúng vào EU và NATO. Đồng thời bà đã đưa Latvia  có vị trí cao hơn trên thế giới thông qua những hoạt động của mình ở LHQ, Liên minh châu Âu và một số  tổ chức quốc tế quan trọng khác.

Từng theo học tại thuộc địa của Pháp là Morocco và định cư ở Canada vào năm 1954. Năm 1965, sau khi có bằng tiến sĩ tại Đại học McGill, bà làm giáo sư tâm lý học tại Đại học Montreal trong nhiều năm và đã được công nhận là học giả liên ngành và chuyên gia về chính sách khoa học.

Hiện nay bà vẫn rất tích cực trong các hoạt đông quốc tế và tiếp tục lên tiếng bảo vệ tự do, bình đẳng và công bằng xã hội. Năm 2007, bà được bầu làm phó chủ tịch nhóm Đối lập về tương lai lâu dài của Châu Âu và bà còn là chủ tịch của nhóm cấp cao về tự do và đa sắc tộc trong truyền thông ở Liên minh Châu Âu.

Bà là thành viên của Hội đồng lãnh đạo phụ nữ thế giới, Câu lạc bộ Madrid (nơi quy tụ các cựu Tổng thống, cựu Thủ tướng), và Hội đồng Châu Âu về Quan hệ đối ngoại. Bà đã được trao tặng hạng nhất tại giải thưởng Order of Merit lần thứ 37 và 17 học vị tiến sĩ danh dự, cũng như nhiều giải thưởng và danh hiệu vinh dự, bao gồm cả giải thưởng Hannah Arendt cho tư duy chính trị vào năm 2005 , huy chương Hayek năm 2009 trong việc thúc đẩy thương mại tự do , và giải thưởng Konrad Adenauer vào năm 2010 cho những đóng góp của bà trong việc xây dựng chính trị của một Châu Âu thống nhất.

(Theo Tuần Việt Nam)

Công điện của Thủ tướng về phòng, chống dịch sởi

Hôm nay (16/4), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có Công điện yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tập trung phòng, chống dịch sởi, chủ động ngăn chặn lây lan dịch, hạn chế đến mức thấp nhất số người mắc bệnh và chết do bệnh sởi.

Bệnh nhân điều trị sởi tại Bệnh viện Nhi Trung ương - Ảnh: Đình Nam/VGP

Toàn văn công điện như sau:

Bệnh sởi đang xảy ra tại nước ta, từ cuối tháng 12 năm 2013 đến ngày 15 tháng 4 năm 2014 đã có 3126 trường hợp mắc bệnh trên 8441 người bị phát ban nghi mắc bệnh sởi; dịch bệnh đã xẩy ra rải rác tại 61/63 địa phương trong cả nước, trong đó 25 trường hợp tử vong do sởi đã được xác định trên 108 trường hợp tử vong liên quan đến bệnh sởi, đặc biệt là trẻ em. Nguyên nhân gây nên bệnh sởi chủ yếu là do tiêm vắc xin phòng bệnh sởi chưa được thực hiện đầy đủ cùng với chu kỳ phát bệnh sởi thường xẩy ra sau 3 đến 5 năm bệnh sởi không xẩy ra.

Nhằm chủ động ngăn chặn lây lan dịch, hạn chế đến mức thấp nhất số người mắc bệnh và chết do bệnh sởi, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1. Bộ Y tế tập trung chỉ đạo cấp cứu, điều trị các trường hợp mắc bệnh sởi tại các cơ sở y tế nhằm hạn chế thấp nhất các trường hợp tử vong, ngăn chặn lây chéo trong bệnh viện, đặc biệt là các cơ sở y tế bị quá tải tuyến trung ương, khẩn trương dập tắt dịch sởi. Bổ sung ngay máy thở, trang thiết bị y tế, thuốc, để bảo đảm cấp cứu điều trị bệnh nhân, sinh phẩm cần thiết phòng lây chéo tại các bệnh viện và chế độ đối với người làm công tác phòng chống dịch sởi.

Bộ Y tế tiếp tục theo dõi sát tình hình dịch sởi ở trong nước và các nước lân cận để có biện pháp chỉ đạo kịp thời cách phòng ngừa bệnh sởi, phương pháp phát hiện sớm, phác đồ điều trị bệnh sởi. Bảo đảm đủ vắc xin sởi để tiêm bổ sung phòng bệnh sởi.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp Bộ Y tế chỉ đạo thực hiện quyết liệt công tác cấp cứu, điều trị hiệu quả các trường hợp mắc bệnh cũng như ngăn chặn lây lan dịch bệnh tại cộng đồng và trong bệnh viện; khoanh vùng ổ dịch và xử lý triệt để không để lan rộng; tiêm đủ vắc xin sởi cho đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh. Bảo đảm việc cấp đủ phương tiện, kinh phí phòng, chống dịch sởi cho các cơ sở y tế trên địa bàn.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố chỉ đạo các cơ quan báo chí thông tin thường xuyên, cập nhật về tình hình dịch sởi, cách phát hiện và phòng ngừa bệnh sởi, đặc biệt là chủ động tiêm vắc xin phòng bệnh sởi và chủ động phát hiện sớm những dấu hiệu mắc bệnh sởi để điều trị kịp thời, hạn chế thấp nhất trường hợp bệnh biến chứng nặng vì phát hiện muộn.

4. Bộ Tài chính bảo đảm đủ kinh phí phục vụ công tác dập tắt dịch sởi của ngành y tế./.

(Theo Chính Phủ)

Chuyện của ông Tổng trưởng Quốc phòng chế độ cũ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lần đầu tiên gặp ông Nguyễn Hữu Có đã cầm tay mà nói: “Chào mi, ta với mi lúc trước hai đứa hai chiến tuyến nhưng nay ta đã là hai anh em”. Đó là lần đầu tiên vợ chồng ông Có được Mặt trận Tổ quốc mời ra Hà Nội họp.
“Một biểu tượng của hòa hợp dân tộc”

Ông Nguyễn Hữu Có từng là chỉ huy quân sự danh tiếng. Khi chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên được thiết lập, ông là một trong 10 sĩ quan (trong đó có Nguyễn Văn Thiệu) được lựa chọn qua Mỹ đào tạo sĩ quan chỉ huy và tham mưu.

Dưới thời chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, ông đảm nhận các chức vụ Tổng Trưởng Quốc phòng kiêm Phó Thủ tướng. Đời binh nghiệp và chính trị của ông Có lên đến tột đỉnh từ giữa năm 1965 đến đầu năm 1967.

Ông Nguyễn Hữu Có và vợ- bà Nguyễn Thị Tín. Ảnh: Lê Nhung

Với địa vị đứng hàng thứ ba sau hai tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, thanh thế tướng Có còn lừng lẫy cả ở nước ngoài.

Ông cũng là một trong số những người vào thời khắc lịch sử của mùa xuân 1975 đã có mặt ở Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn, chứng kiến những giây phút cuối cùng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Ông Có từng tâm sự: “Là kẻ chiến bại còn ở lại, tôi phải chấp nhận mọi tình huống nguy hiểm xảy ra”.

Sau mười hai năm đi học tập cải tạo, trở về Sài Gòn, ông Có chỉ “loanh quanh trong nhà trồng rau, nuôi gà”.

Cho đến năm 1994, Mặt trận Tổ quốc Thành phố HCM vời ông tham gia như một “nhân sĩ tự do”. Rồi sau đó, tên ông xuất hiện trong danh sách thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ trái sang: các ông Triệu Quốc Mạnh, Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Hữu Có và nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trong buổi họp báo sáng 25-3-2005 gặp gỡ báo chí quốc tế nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước - Ảnh: TTD

Kể từ đây, ông Có bắt đầu được mời đến dự các cuộc gặp với lãnh đạo thành phố, lãnh đạo nhà nước và xuất hiện trong các cuộc họp báo quốc tế mỗi dịp 30/4. Chuyện về ông được báo chí quốc tế nhắc đến như “một biểu tượng của hòa hợp dân tộc”.

Chúng tôi có tới 12 người con, bốn con đang ở Mỹ, một ở Pháp. Các con tôi tuy làm những công việc khác nhau nhưng đủ sống. Tôi đã cùng vợ qua bên Mỹ chơi thăm bạn bè, không hề bị ai cấm đoán hay ngăn cản“, ông Có từ tốn nói.

Vợ ông, bà Nguyễn Thị Tín cho hay, thời gian chồng đi cải tạo cũng là lúc bà phải chật vật (như mọi người dân Sài Gòn khi đó) kiếm sống. Bà luôn có mặt bên chồng trong mỗi cuộc gặp với các lãnh đạo nhà nước như ông Phạm Thế Duyệt, Võ Nguyên Giáp…

Bà vẫn kể đi kể lại câu chuyện cách đây vài năm khi ông bà ra Hà Nội đã được đích thân Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Phạm Thế Duyệt đón tiếp, đưa đi Hạ Long chơi.

“Hãy chìa tay trước”

Trước đây, căn bếp nhà ông Có mỗi tuần một lần vẫn là nơi tổ chức nấu cháo từ thiện tiếp tế miễn phí cho thân nhân những người nghèo ở Bệnh viện Nhi đồng Một.

Bà Tín, vợ ông nhắc đi nhắc lại, ông Có tuy đã từng là một Tổng trưởng Quốc phòng chế độ cũ nhưng sau thời gian cải tạo đã luôn chủ động hòa nhập với cuộc sống mới. Và ông cũng không gặp phải trở ngại gì trên con đường hòa nhập đó.

Việt kiều trong mít tinh 1-5-1975 mừng Việt Nam thống nhất. Bên phải: cụ Trần Văn Mạc - Chủ tịch Hội Phụ lão Việt Nam. (Ảnh tư liệu trong cuốn "Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris")

Chỉ còn một điều vẫn khiến hai vợ chồng vị tướng già trăn trở là dường như sau bao nhiều năm mà với nhiều người như vẫn đang còn vướng víu những định kiến cũ, khiến công cuộc hòa hợp dân tộc, thống nhất lòng nưgời trong ngoài như một vẫn chưa đi được tới đích.

Bạn bè ông Có, vẫn không ít người luôn mang mặc cảm “người phía bên kia”, từng ra đi trước biến cố 1975 và nay phần đa đều có ý nguyện muốn được trở về với quê hương, đất nước. Họ mong đợi lãnh đạo Đảng, Nhà nước chủ động chìa tay ra trước.

Không phủ nhận ngoài phần đông những người có thiện ý muốn xây dựng đất nước, vẫn còn lại một nhóm người cực đoan, quá khích.

“Với những người đó, nên chi lãnh đạo nhà nước hãy chủ động chìa tay ra trước. Hãy khuyến khích, chủ động mời những người đang còn định kiến quay về nước để họ chứng kiến tình hình mới rồi từ đó thay đổi cái nhìn với đất nước… “, bà Nguyễn Thị Tín nói.

“Hoà giải chỉ có bằng hành động”

Cựu đại sứ Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung từng viết trong một tập sách kỷ niệm ngày thống nhất đất nước: “Đạo lý dân tộc ta là bàn tay có ngón ngắn ngón dài nhưng đều quy lại thành một bàn tay”.

Theo ông Sung, người Việt khi có ngoại xâm thì đứng lên chống giặc cứu nước, nhưng khi kẻ xâm lược bị đánh đuổi thì với những người Việt do hoàn cảnh không đứng vào hàng ngũ kháng chiến hoặc thậm chí chống lại kháng chiến cũng nên độ lượng bỏ qua để cùng hàn gắn vết thương chiến tranh, cùng xây dựng lại đất nước thân yêu.

Ông Sung cũng kể lại một câu chuyện độc đáo, đó là buổi trưa ngày 30/4 năm 1975 lịch sử, cựu Thủ tướng chế độ cũ Nguyễn Khánh bấy giờ đang ở Pháp đã đến gặp ông Sung với băn khoăn: “Bây giờ các anh thắng rồi thì những người như tôi còn có ích gì nữa không?“.

Cựu đại sứ Võ Văn Sung

Ông Nguyễn Khánh trước đó vẫn lui tới ĐSQ Việt Nam và ủng hộ cho con đường hòa hợp dân tộc, thực hiện đường lối của Hiệp định Paris. Chính vì thế, câu trả lời của vị đại sứ Việt Nam là: “Sao anh lại nói là “các anh”. Đây là thắng lợi của toàn dân tộc. Chúng ta đã thắng. Nếu cần nói tên một người Việt Nam thất bại thì đó là Nguyễn Văn Thiệu. Rồi đây việc hàn gắn vết thương chiến tranh, việc xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, còn bao nhiêu việc cần sự đóng góp của mỗi người con dân Việt“.

Tư tưởng ấy ta đã thực hiện suốt ba mươi lăm năm qua. Bởi, riêng ở miền Nam Việt Nam chiến tranh liên miên, hầu như gia đình nào cũng có người của hai bên và đều chịu mất mát đau thương. Không gì khác là phải tha thứ để cùng xây dựng lại.

Nhưng nếu đây đó còn có những ngại ngần, còn có những vết thương chưa liền, còn có những phân ly và cách trở thì chính những người đứng đầu Đảng, Nhà nước phải tiếp tục làm nhiều việc hơn nữa để xóa đi những khoảng cách, tập hợp sức mạnh dân tộc, ông Võ Văn Sung đúc kết.

Ông Hồ Ngọc Nhuận, cựu dân biểu đối lập của chính quyền Sài Gòn, người tự xem là “cả đời tôi đấu tranh cho chủ trương hòa hợp dân tộc“, cũng khẳng định “An vị lâu dài chỉ có thể có với lòng dân và trong lòng dân, bằng con đường hòa giải thật sự trong hành động chứ không bằng lời nói. Và chỉ có thể hòa giải khi trả lại sự công bằng cho mọi người, mọi thành phần dân tộc“.

Như thông điệp mà Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói trong trên tuần báo Quốc Tế (Bộ Ngoại giao) vào dịp kỷ niệm ba mươi năm thống nhất đất nước: “Hòa hiếu”, “khoan dung” là những truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. Người Việt thường chỉ kháng chiến khi có kẻ thù từ bên ngoài. Tôi nghĩ mọi người Việt Nam chúng ta, cả đôi bên đều nhận thấy khi không còn sự can thiệp từ bên ngoài nữa, chúng ta có thể trở về bên nhau, cùng nhau xây dựng. Và Việt Nam sẽ thêm phát triển khi mọi người Việt dù ở đâu cũng đều ở trong một cộng đồng hòa hợp”.

Lê Nhung – Thu Hà (Theo Tuần Việt Nam)

Phát triển đất nước: Nhân hòa là yếu tố quan trọng nhất

Người ta thường nói, nếu như trong kinh doanh, sự thành công của một tập đoàn là do ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa thì với đất nước cũng vậy. Một đất nước muốn phát triển mạnh không thể nào thiếu ba yếu tố trên, đặc biệt là “nhân hòa” – đây chính là yếu tố quan trọng nhất.

Điều gì xảy ra nếu nội bộ cứ mãi lủng củng, đá đáp lẫn nhau vì lợi ích cá nhân mà bỏ mặt lợi ích tập thể? – Chắc chắn chủ thể chẳng thể tồn tại bao lâu hoặc có tồn tại thì cũng chẳng thể nào phát triển được!

Trong công ty ABCD, vì tranh giành “chiếc ghế”, nhân viên A thực hiện hàng loạt hàng động phá hoại sản phẩm của nhân viên B làm ra nhằm hạ uy tín, lòng tin của lãnh đạo công ty dành cho B. Nhân viên B luôn cố gắng tạo cơ hội, cố gắng để A nhận ra sai trái và dừng lại. Nhưng kết quả không như mong muốn. Chỉ một thời gian ngắn, nhân viên A đã làm công ty thiệt hại đáng kể về tài sản, tiền của. Mãi chạy theo danh vọng và lòng thù hận cá nhân, A không biết rằng mình đã tàn phá công ty, làm công ty thất thoát và kéo theo là hàng loạt hợp đồng với đối tác bị hủy bỏ, đồng nghiệp, cấp dưới phải giảm biên chế, nghỉ việc! Đồng nghiệp, cấp dưới có tội gì đâu mà lại hứng chịu hậu quả mà A đã gây ra? Thế mới thấy được, yếu tố nhân hòa trong kinh doanh là quan trọng như thế nào?

Tại Quảng trường 2/4, TP Nha Trang, 1.500 sinh viên đã cùng nắm tay nhau xếp hình bản đồ Việt Nam trong buổi mit tinh hưởng ứng Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam 2011, với chủ đề “Trí tuệ xanh cho sự phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam” có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đảo Phú Quốc.

Với một công ty đã vậy thì với một đất nước, nếu như người một nước cứ mãi đấu đá, nói xấu nhau, dựng chuyện xuyên tạc đủ điều thì ai là người lãnh đủ? Phải chăng, chính là người dân?! Trong bất kỳ trường hợp nào, hoàn cảnh nào thì lòng thù hận, sự ích kỷ cá nhân và cái tôi muốn mình là “đúng” cũng thật đáng sợ – nó đều đem lại đau khổ cho cả một tập thể chứ không riêng gì một cá nhân!

Sự việc gần đây nhất là, vì lòng ích kỷ cá nhân, vì cái tôi cá nhân, một số người mang dòng máu Việt hải ngoại phản đối Mỹ kết nghĩa anh em với thành phố Nha Trang (Việt Nam) làm cho cơ hội việc làm của người dân mình mất đi. Biểu tình, phản đối với lý do: “Cộng sản Việt Nam đang âm thầm tìm cách xâm nhập vào Cộng đồng Việt Nam tại Orange County dưới hình thức ẩn giấu trong việc kết nghĩa giữa hai thành phố Irvine – Nha Trang… Nếu hội đồng thành phố chấp thuận, sẽ cho phép cộng sản Việt Nam sinh hoạt, treo cờ cộng sản công khai tại thành phố Irvine khi có lễ hội”, những cá nhân này không biết rằng, bản thân mình đã “bóp cổ” cơ hội việc làm của người dân Việt Nam đang sinh sống trong nước. Không nhận ra lợi ích cộng đồng, dân tộc, một số người đã “vô tình” gạt bỏ người cùng dòng máu với mình sang một bên, làm mất đi niềm tin của những người trong nước đối với một số người ở hải ngoại. Nếu như biết suy nghĩ chín chắn một chút, biết thương dân đúng nghĩa thì tin rằng, không một ai lại “đạp đổ” cơ hội phát triển đất nước như thế này? Một người, tập thể nếu sống vì lợi ích, cái tôi cá nhân thì chẳng thể nào góp phần đưa đất nước đi lên được – điều căn bản này, có lẽ họ đã “không” nhận ra?

Một số người Việt ở hải ngoại có mặt tại tòa thị chính Irvine phản đối kết nghĩa với Nha Trang. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Xây dựng đất nước không phải là chuyện dễ dàng, đất nước chẳng thể nào phát triển nếu như người cùng một nước “cấu xé” nhau – và đấy chính là nỗi đau nhất. Vừa đối phó với hiểm họa xâm lăng từ giặc bên ngoài, vừa ngoại giao, tìm cơ hội hợp tác với bạn bè quốc tế, vừa dồn sức đối phó với thành phần phá hoại trong nước và nay khi đất nước mở cửa thì một số người ở hải ngoại đang nói ở trên lại cướp đi cơ hội phát triển…, phải “phân thân” nhiều như vậy thì sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian, nhân lực và tiền của của đất nước!

Nếu như không bỏ thêm sức, dồn thêm tâm đối phó với một số thành phần phá hoại tình đoàn kết thì đất nước sẽ đỡ đi một phần tốn kém; thêm nhiều cánh cửa, cơ hội phát triển đất nước sẽ mở thêm ra!

Những điều này, ở các nước phát triển, những con người thông minh không bao giờ hành động theo kiểu thù cá nhân – có nghĩa là, họ không dại gì đi “đá đáp”, rắp tâm làm hại, sỉ nhục người cùng dòng máu với mình! Vì họ biết, làm thế là làm hại đến cả đất nước chứ không phải chỉ làm ảnh hưởng cá nhân mình ganh ghét. Hòa hợp, nhân hòa – đó chính là cách, là cái gốc thể hiện lòng yêu nước để góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển! Liệu người Việt Nam có làm được như họ không? Liệu tinh thần dân tộc của người Việt có cao cả, vượt lên trên cả sự thù hận cá nhân không?

Tất cả là do lòng người, nếu như yêu nước một cách thật sự thì sẽ làm được, sẽ bỏ qua được tất cả vật cản, lòng thù hận và cái tôi ích kỷ để hướng đến điều tốt đẹp nhất cho đất nước, dân tộc.

Hải Dương.

(Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả)

Các công ty lớn nhất của Nga vươn tới vùng Viễn Đông

Các công ty lớn nhất của Nga đang thảo luận về khả năng di chuyển trụ sở chính tới vùng Viễn Đông.
Theo chỉ thị của Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev, đã chọn lựa khoảng 10 công ty nhà nước mà hoạt động của các cơ sở này gắn liền chặt chẽ với vùng Viễn Đông, trong đó có “Gazprom”, “Transneft”, “RusHydro”, “Alrosa”, “Rosneft”. Bây giờ Chính phủ tiến hành cuộc tham vấn với lãnh đạo các công ty này và những cơ sở khác.

Một số công ty nhà nước Nga sẽ được đăng ký lại ở vùng Viễn Đông. Ban lãnh đạo đất nước đã thông qua quyết định có tính nguyên tắc về điều đó. Phải có nguồn vốn bổ sung cho sự phát triển của khu vực này. Giáo sư Iosif Diskin của Viện Kinh tế cao cấp tin chắc rằng, phương pháp khấu trừ thuế nộp vào ngân sách địa phương chắc chắn sẽ giúp giải quyết vấn đầ này: “Ban lãnh đạo đất nước muốn để những người làm việc và kiếm tiền ở vùng Viễn Đông nộp thuế vào ngân sách địa phương. Chính phủ xem xét danh sách các công ty có doanh thu phần lớn được tạo ra ở vùng Viễn Đông. Quyết định như vậy là một bước quan trọng để hỗ trợ tài chính cho Viễn Đông.

Thành phố Vladivolstok, nơi diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh APEC 2012

Ngoài ra trong khu vực áp dụng các biện pháp khác nhằm tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Nga và nước ngoài. Tất cả điều này sẽ đẩy mạnh sự phát triển của vùng Viễn Đông. Mặc dù nhịp độ phát triển vùng Viễn Đông là cao hơn so với các khu vực khác trong nước, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của thời đại hiện nay”.

Các công ty đã được chọn lựa theo nguyên tắc: có khả năng thực hiện các dự án đầu tư lớn ở vùng Viễn Đông và khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Hầu hết các công ty nhà nước trong danh sách này đã thành lập doanh nghiệp trong khu vực. Như dự định, “Transneft” và “Rosneft” sẽ được đăng ký tại Vladivostok hoặc Khabarovsk. Trụ sở “Alrosa” sẽ có địa chỉ mới tại Yakutsk, “RusHydro” – tại Blagoveshchensk. Các công ty khai thác mỏ sẽ có trụ sở mới ở Kamchatka, Chukotka, trên đảo Sakhalin, ở Magadan và tỉnh tự trị Do Thái. Ngoài ra, công ty hàng hải “Sovcomflot”, hãng “Gazprom ” và cơ quan khai thác hải sản Liên Bang Nga “Rosrybolovstvo” cũng có thể di chuyển tới vùng này.

Chính phủ hứa sẽ chú trọng ý kiến ​​của các nhà lãnh đạo công ty và cơ quan nhà nước, nhưng, quyết định cuối cùng sẽ do Tổng thống thông qua. Danh sách cuối cùng sẽ được trình lên Tổng thống và ông Putin có thể đưa những sửa đổi vào văn kiện này.

Trong khi đó, việc thay đổi địa chỉ pháp lý không có nghĩa là tất cả các văn phòng sẽ rời khỏi Mátxcơva. Mục đích là củng cố hoạt động của các văn phòng khu vực để cải thiện cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực này và gia tăng sức hấp dẫn đầu tư của vùng Viễn Đông. Vì thế, dù ý tưởng ban đầu đã gây ra hoảng loạn trong các nhân viên tại trụ sở chính của các tập đoàn nhà nước, nhưng, sau đó họ yên tâm không còn sợ nữa.

Nhà điều hành lớn nhất của các đường ống dẫn dầu – công ty “Transneft” là một trong những người đầu tiên chấp nhận sáng kiến ​​đó và bắt tay thực hiện kế hoạch này. Công ty đang thành lập một cơ chế đặc biệt – Cục Viễn Đông – để điều phối tất cả các dự án của “Transneft” trong khu vực. Nếu nói về các loại thuế, thì theo lời Giám đốc công ty Nikolai Tokarev, đã hai năm nay các khoản khấu trừ từ thu nhập của công ty ở vùng Viễn Đông được nộp vào ngân sách địa phương.

Transneft tại vùng Viễn Đông

Ông Tokarev nhấn mạnh rằng, ông không lo sợ việc di chuyển tới vùng Viễn Đông bởi vì công ty làm việc ở đó trên cơ sở lâu dài, các nhà lãnh đạo của công ty thường xuyên hiện diện ở đó bởi vì họ thích thông qua quyết định quan trọng ngay tại chỗ. Đây là thực tiễn phổ biến. Nhưng, điều đó không có nghĩa là tất cả các nhân viên nên di chuyển tới nơi khác cùng với gia đình. Ông Nikolai Tokarev nói, chúng tôi đã tìm ra phương án tối ưu và sẽ tiếp tục giải quyết vấn đề này theo yêu cầu của chính phủ.

Hàng trăm ngàn lao động Việt có thể sang khai phát vùng Viễn Đông Nga

Khu vực này có thể thu hút hàng trăm ngàn người Việt Nam, cung cấp cho họ những khu vực đất đai rộng lớn tạo ra các doanh nghiệp nông nghiệp hoặc khai thác chế biến gỗ quy mô lớn.

Tại vùng Primorye của Nga sẽ có khu công nghiệp nhẹ Nga Việt. Dự án này đã được thảo luận tại cuộc gặp gần đây ở Vladivostok giữa lãnh đạo khu vực Primorsky và đoàn đại biểu Bộ Công Thương Việt Nam. Primorye đang quan tâm thu hút đầu tư nước ngoài. Bởi vì đầu tư nước ngoài sẽ giúp phát triển nền kinh tế của khu vực, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương và tăng doanh thu thuế. Việt Nam có nhiều kinh nghiệm phong phú và công nghệ sản xuất công nghiệp nhẹ tiên tiến. Không phải ngẫu nhiên mà đất nước chiếm vị trí thứ 4-5 trên thế giới về xuất khẩu quần áo và giày dép. Tại khu công nghiệp ở Primorye sẽ sản xuất hàng may mặc, quần jean, giày dép, hàng da, chăn đệm và đồ lót. Tại đây cũng sẽ lập xưởng chế tạo các mặt hàng điện tử.

Phía Nga đề xuất xây dựng khu công nghiệp tương lai gần thị trấn Artyom, cách Vladivostok – thủ phủ vùng Primorsky khoảng 40 km. Phía Việt Nam hài lòng về địa điểm này. Trưởng phòng thông tin của chính quyền thành phố, bà Irina Shpak cho biết là Artem có vị trí địa lý rất thuận lợi:

“Khu vực của chúng tôi gần sân bay quốc tế Vladivostok. Các tuyến đường cao tốc và đường sắt quan trọng nhất đều đi qua Artyom. Nhưng thành phố được lựa chọn để xây dựng khu công nghệ không chỉ bởi điều đó. Hiện nay, Artyom chiếm vị trí đầu tiên trong số các thành phố khác của khu vực Primorsky về sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở đây không có vấn đề quan liêu như trong các thành phố khác. Hiện nay, các doanh nhân, bao gồm cả người nước ngoài, đều thu lợi khi đầu tư khởi nghiệp trong thành phố chúng tôi. Đặc biệt, chúng tôi đã có một trong những trung tâm hậu cần hàng hải đầu tiên với sự tham gia của nguồn vốn Việt Nam.”

Quảng trường trung tâm thành phố Vladivostok

Phía Nga mong đợi các chuyên gia Việt Nam áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất vào khu công nghiệp và cung cấp sản phẩm chất lượng cao. Dự án sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho cư dân địa phương.

Tiến sĩ khoa học kinh tế Vladimir Mazyrin cho rằng lực lượng lao động Việt Nam sẽ hỗ trợ việc thực thi các dự án đầu tư vào vùng Viễn Đông và giúp cho kinh tế khu vực này trỗi dậy:

“Việt Nam quan tâm đến xuất khẩu lao động, mà vùng Viễn Đông Nga còn rất thiếu nhân lực. Chúng tôi biết rằng người Việt Nam rất yêu lao động và có tính kiên trì. Khu vực này có thể thu hút hàng trăm ngàn người Việt Nam, cung cấp cho họ những khu vực đất đai rộng lớn tạo ra các doanh nghiệp nông nghiệp hoặc khai thác chế biến gỗ quy mô lớn. Bộ Phát triển khu vực của Nga đã đưa ra một đề nghị như vậy. Những dự án này cần phải được các công ty hoặc cá nhân phía Việt Nam tài trợ. Người Việt Nam có thể trồng đậu tương hoặc bất kỳ loại cây trồng cần thiết khác và xuất khẩu chúng. Như vậy, họ sẽ thu được lợi nhuận và phát triển kinh tế của đất nước chúng tôi.”

Khuôn viên mới của trường FEFU, một trong ba trường lớn nhất của CHLB Nga, nằm ở thành phố cảng Vladivostok.

Hiện tại có gần 20 sinh viên Việt Nam đang học tập tại các trường đại học của Vùng. Trong năm 2010 đã xây dựng Trung tâm điều phối hợp tác khoa học – kỹ thuật DVO RAN (Chi nhánh Viễn Đông của Viện Hàn lâm Khoa học Nga) và Viện khoa học công nghệ Việt Nam và 3 phòng thí nghiệm Nga – Việt.

Phát triển Viễn Đông là mục tiêu chiến lược của Nga. Các vấn đề chiến thuật sẽ do Bộ phát triển Viễn Đông giải quyết. Nhiệm vụ của Bộ này là tạo mọi điều kiện cần thiết để khu vực giàu có tài nguyên thiên nhiên này vươn lên. Trong vấn đề này, sự giúp đỡ của các quóc gia láng giềng sẽ rất hữu ích.

(Theo Tiếng nói nước Nga)

Con đường hòa nhập của những nhân sĩ chế độ cũ

Thực ra lâu nay, cái tên “Nhóm Thứ Sáu” được nhắc đến rải rác trên một số trang báo, nhưng chưa từng có một tuyến bài nào kể lại đầy đủ hoạt động và đóng góp của nhóm. Chúng tôi trân trọng chia sẻ cùng độc giả bài viết đăng trên Tuần Việt Nam sau khi tiếp xúc với một số câu chuyện thực tế của họ.
GS. Đặng Phong trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 kể: Ở TP. Hồ Chí Minh có một nhóm chuyên viên kinh tế được nhắc đến với cái tên “Nhóm Thứ Sáu”. Thành phần chủ yếu là những người từng làm việc trong chế độ cũ. Họ được Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh thời đó là ông Võ Trần Chí trọng dụng.

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

Ông Võ Trần Chí (giữa) trò chuyện cùng lãnh đạo TP.HCM và các thanh niên tại Nhà hát thành phố. Ảnh chụp năm 2007. Ảnh: HTD

Thời kỳ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80

Sau hai đợt cải tạo, tiềm lực kinh tế của thành phố gần như kiệt quệ. Nhiều năm sau ngày giải phóng, nền kinh tế vận hành theo quán tính như một chiếc xe ngày càng cạn nhiên liệu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế ngầm phát triển với hàng loạt sản phẩm tiêu dùng thuộc loại kém chất lượng vì thành phần nguyên liệu, phụ liệu không đủ, được đưa ra thị trường nhằm giải quyết nhu cầu không thể thiếu của người dân.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong một chuyến thị sát đường Trường Sơn cùng 'nhóm thứ sáu' - Ảnh tư liệu

Nền kinh tế kế hoạch tập trung và cơ chế bao cấp áp đặt ở miền Nam làm cả hai miền đất nước nghèo như nhau. Đó là thời kỳ mà lần đầu tiên ở Sài Gòn biết thế nào là ăn độn. Trí thức Sài Gòn phần lớn dính dáng vào quân đội và chính quyền cũ nên phải đi học tập cải tạo, một số trở về mang tâm trạng hoang mang chán nản, một số không ít bỏ ra nước ngoài tạo nên tình trạng chảy máu chất xám đến mức báo động. Thêm vào đó, vụ Nạn kiều và những chuyến vượt biên bán công khai càng làm cho tâm lý xã hội thêm nặng nề.

Trong tình hình kinh tế xã hội gay gắt ấy, mô hình công ty xuất nhập khẩu trực dụng được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời mà Quận 5 đã đi tiên phong với Công ty Cholimex.

Mục đích của công ty này là huy động những đồng vốn tản mát trong dân dưới hình thức cổ phần, tận dụng các mối quan hệ của những nhà kinh doanh người Hoa với bên ngoài để xuất khẩu các loại hàng nông hải sản rồi nhập vật tư nguyên liệu về cung ứng cho các cơ sở sản xuất tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh và cho cả các doanh nghiệp nhà nước.

Lúc bấy giờ, ông Phan Chánh Dưỡng sau khi giã từ ngành giáo dục được Quận uỷ đưa về làm Trưởng phòng kế hoạch tại Cholimex. Là một nhà giáo gần như chưa bao giờ tiếp cận với hoạt động kinh doanh ở cấp độ công ty, ông Dưỡng thấy rằng cần phải thu hút chất xám từ những người có kiến thức chuyên môn để bổ sung vào những hạn chế của mình.

Thế là ông Trần Bá Tước, một chuyên viên ngân hàng sau khi đi học tập về đã đến với Cholimex vào năm 1982 với tư cách là một phiên dịch. Tiếng lành đồn xa, nhận ra Cholimex là nơi có thể đóng góp hiểu biết của mình, nhiều trí thức cũ đã gặp ông Phan Chánh Dưỡng và trở thành những người trợ lý đắc lực.

Một trong những người này là ông Phan Thành Chánh, chuyên viên ngân hàng và ông Đỗ Hải Minh, chuyên viên hành chính nhiều kinh nghiệm trước đây làm việc ở Bộ phát triển sắc tộc trong chế độ cũ, sau khi đi học tập về đang tìm một chỗ làm việc để nhẹ gánh mặc cảm.

Khu chế xuất Tân Thuận

Ông Nguyễn Thông Minh, một chuyên gia mà cũng là một giáo sư đại học dạy vật lý có phương pháp sư phạm rất tốt (nhất là về môn điện tử) lại là một chuyên viên điện toán giỏi, sau khi “đầu quân” đã soạn chương trình vi tính về quản lý lương bổng cho Cholimex, một công việc cực kỳ mới mẻ lúc bấy giờ. Sau đó ông lại đứng ra thành lập Trung tâm Điện toán Cholimex, cơ sở vi tính đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Từ đó Cholimex thành một nơi đất lành chim đậu, tập hợp rộng rãi các anh em trí thức đang làm việc tại Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố, Công ty Đại Dương, Công ty dịch vụ Kỹ thuật như các anh Lê Mạnh Hùng, Võ Hùng, Võc Văn Huệ. Rồi đến Mai Kim Đỉnh, Trương Quang Sáng, Lê Hoà, Nguyễn Chính Đoan, Lê Văn Bỉnh, Trần Văn Tư, Đỗ Trung Đường, Lê Đình Khanh, Lâm Tuấn Anh, Võ Gia Minh, Trần Quí Hỷ, Đỗ Nguyên Dũng, Phan Tường Vân, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Hồ Xích Tú, Nguyễn Ngọc Hồ… cùng một số người khác.

Thời kỳ đầu, họ đã đi thực tế ở nhiều nơi như Duyên Hải, Đồng Nai và các tỉnh miền Tây, nghiên cứu nhiều dự án với hy vọng khái thác tiềm năng cho nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố. Thế nhưng đó lại là câu chuyện đội đá vá trời trong tình hình cơ chế xơ cứng đang còn ngự trị. Khi nhìn lại anh em thấy những công việc đã làm chẳng qua cũng là công dã tràng. Nhưng dù sao đây cũng là nhân tố ban đầu của sự tập hợp một số trí thức cũ có tấm lòng và mong được đóng góp cho sự phát triển kinh tế thành phố nói riêng và đất nước nói chung.

Bước đầu hình thành Nhóm, ngoài hạt nhân là ông Phan Chánh Dưỡng còn có sự ủng hộ của ông Võ Trần Chí khi ấy đang làm Bí thư Quận 5- một người cầu thị, trân trọng trí thức, trong giao tiếp không bao giờ nói chuyện đao to búa lớn.

Ông Chí cũng nhận ra rằng không dễ dàng khai thác kiến thức của những người trí thức. Muốn anh em đóng góp thì phải tạo cho họ có được cảm giác tự do, không một mảy may gò bó. Cũng trong tư cách một người anh, ông chấp nhận ngay cả việc anh em có thể nói sai, cho rằng đó chẳng qua vì anh em chưa hiểu thấu đáo, lần lần rồi cũng sẽ hiểu ra. Chính sự bao dung đó đã thuyết phục được anh em.

Các thành viên Nhóm thứ 6

Thời gian này, Nhóm Thứ Sáu sinh hoạt định kỳ ba lần một tuần tại Cholimex vào thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, gặp gỡ nhau để bàn bạc, tranh luận. Đó vừa là cơ hội để kết thân vừa giải toả được mặc cảm nên ai cũng thấy rất vui, dần dần trở thành nhu cầu mà tuần nào không gặp nhau là cảm thấy như thiếu điều gì đó, một thứ thiếu vắng không có tên gọi.

Giai đoạn 1986-1990: Những công trình nghiên cứu

Sau mấy năm sinh hoạt tại cơ ngơi của Mạnh Thường Quân Cholimex, cùng nhau mổ xẻ một số vấn đề gay gắt trong đời sống kinh tế xã hội, cho đến một lúc họ bỗng giật mình nói với nhau: Cả Nhóm ngồi lại nhiều năm nói chuyện trên trời dưới đất nhưng nếu ai đó không hiểu thì lôi thôi, không chừng lại bị “hỏi thăm”.

Suy nghĩ này được ông Phan Chánh Dưỡng đề đạt lên ông Võ Trần Chí khi đó đang làm Bí thư Thành uỷ: nếu thấy tin cậy được thì đề nghị cấp cho một giấy chứng nhận hợp thức hoá sự tập hợp trí thức cũ. Rất may, do quá trình hiểu biết anh em nhiều năm, ông Võ Trần Chí đồng ý và giao nhiệm vụ này cho ông Năm Ẩn, lúc đó là Trưởng ban Kinh tế Thành uỷ.

Thế là một danh sách 24 người được gửi lên cho lãnh đạo, anh Năm Ẩn ký giấy xác nhận danh sách “Nhóm nghiên cứu chuyên đề kinh tế của Thành uỷ”. Đây không phải là giấy khai sinh mà chỉ là tấm lá chắn nhưng cũng đã đánh dấu thời điểm “hợp pháp” từ tháng 10 năm 1986.

Bắt đầu từ đấy, nhóm trí thức cũ sinh hoạt định kỳ hàng tuần, vẫn tại Cholimex và hoàn toàn có tính tự nguyện. Cũng từ đó các lãnh đạo thành phố như các ông Võ Trần Chí (Hai Chí), Nguyễn Vĩnh Nghiệp (Sáu Tường), Năm Ẩn, Tư Triết, Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) thỉnh thoảng xuống tham dự hội họp với họ.

Ông Lâm Võ Hoàng (trái) và ông Lê Trọng Nhi, người nhiều tuổi nhất và người ít tuổi nhất trong 'nhóm thứ sáu', rất tâm đắc với nhau trong thảo luận chính sách kinh tế và cả câu chuyện đời - Ảnh: Tự Trung

Cái tư cách pháp nhân lưng chừng ấy cũng đã khiến nhóm nhân sĩ này nghĩ đến một cách sinh hoạt có tính chủ đề hơn. Vì vậy đây chính là thời kỳ hình thành nhiều công trình nghiên cứu có tính bài bản của nhóm. Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, qua đó tâm huyết của anh em đã có cơ hội góp phần vào việc hình thành chính sách của nhà nước sau này.

Nghiên cứu về Giá – Lương – Tiền:

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện rất bài bản. Có mô tả hiện trạng, có phản biện, có cơ sở lý luận và chuẩn bị bảo vệ ý kiến của mình.

Bài toán giá – lương – tiền được mổ xẻ thấu đáo mà đáp số của nó theo quan điểm của nhóm có cự ly rất xa với nhận định của các nhà lập chính sách ở Trung ương vào lúc ấy. Sau nhiều tuần cọ xát quan điểm, anh em hoàn thành bản nghiên cứu về giá – lương – tiềm thì vào cuối năm 1986 ông Phạm Chánh Trực viết thư giới thiệu công trình này với ông Võ Văn Kiệt lúc ấy đang làm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và đề nghị ông trực tiếp nghe anh em trình bày.

Các ông Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước ra Hà Nội báo cáo đề tài này với các chuyên viên cấp cao của Chính phủ, buổi làm việc do ông Sáu Dân chủ trì, Đề tài nghiên cứu này có tính thuyết phục, được các chuyên viên như ông Trần Đức Nguyên, Vũ Quốc Tuấn, Lê Đăng Doanh đánh giá cao. Trước khi trở về thành phố Hồ Chí Minh, các anh Dưỡng, Sơn, Tước còn được ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại giao) mời trình bày đề tài này và cũng được ông đánh giá cao.

Nghiên cứu đề tài Cải tổ Ngân hàng:

Sau chuyến thuyết khách ở Hà Nội, Nhóm Thứ Sáu nắm bắt thêm thực tế và phát hiện ra rất nhiều nghịch lý trong điều hành vĩ mô. Một trong những vấn đề đó là hoạt động thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng của thời kế hoạch hoá tập trung. Đề tài này do hai ông Huỳnh Bửu Sơn và Lâm Võ Hoàng là những người có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trong lĩnh vực ngân hàng chủ trì.

Nghiên cứu của họ đi sâu vào cơ thể dị dạng của hai bộ phận Ngân hàng và Tài chính dính chặt vào nhau, sự bất hợp lý trong điều hành chính sách tiền tệ và đề xuất một cơ chế hoạt động cho Ngân hàng theo hướng kinh tế thị trường. Đề tài nghiên cứu này cũng được Chính phủ quan tâm, những suy nghĩ và đề xuất của các thành viên trong Nhóm dường như có sự lan toả cho nên vào năm 1988, khi Chính phủ chẩn bị Pháp lệnh Ngân hàng, hai ông Lâm Võ Hoàng và Huỳnh Bửu Sơn đã được mời tham gia vào việc soạn thảo.

Nghiên cứu phát triển Ngoại thương:

Đây là đề tài nghiên cứu khá gay gắt bởi vào thời điểm ấy thành phố Hồ Chí Minh chủ trương cho các công ty xuất nhập khẩu tự cân đối tài chính. Đề tài này làm rõ chủ trương vừa nói là sai lầm vì đó chính là một trong nguyên nhân đẩy giá cả tăng lên.

Tp.Hồ Chí Minh

Do được quyền tự cân đối nên các công ty xuất nhập khẩu mua nông sản với bất cứ giá nào bất chấp giá thị trường để xuất khẩu, rồi dùng ngoại tệ bán được để nhập khẩu bán lại cho trong nước với giá cao để kiếm lời mà Nhà nước không can thiệp vào. Do tự cân đối mà giá cả nông sản tăng keo theo hàng công nghệ phẩm lên giá, góp phần làm tăng áp lực lạm phát.

Đề tài Kinh tế vùng:

Đề tài này được giao cho ông Nguyễn Ngọc Hồ chủ trì và được bản thảo lâu nhất, kéo dài khoảng nửa năm. Công trình này được ông Lê Văn Triết lúc bấy giờ là Thứ trưởng Thương mại đánh giá cao và sau đó góp phần vào việc hình thành chính sách.

Công ty tư vấn Đầu tư và Khu chế xuất:

Vào năm 1987, dưới tác động của chính sách mở của, Nhóm tập trung thảo luận về khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và thống nhất thành lập Công ty tư vấn đầu tư (IMC). Đây là một chuyển biến quan trọng trong sinh hoạt của Nhóm, chuyển từ bàn bạc sang thực hiện. Ông Phan Chánh Dưỡng được giao làm Phó Giám đốc Công ty, nhưng sau đó do số cán bộ từ thành phố điều xuống áp dụng cách làm việc theo kiểu cũ nên vai tròg hạn chế, không phát huy được công năng của công ty. Vì vậy ông Dưỡng và một số anh em trong Nhóm từng bước rút lui khỏi công ty.

Năm 1989, ông Dưỡng đề nghị thành lập Hiệp hội Xuất nhập khẩu đầu tư (Infotra) và đề tài được anh em tập trung nghiên cứu là Khu chế xuất. Đây cũng là thời gian ông Dưỡng rút khỏi vị trí Giám đốc Cholimex và chú tâm vào việc biến công trình nghiên cứu trở thành hiện thực.

Có thể nói đây là công nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao vì sau đó nội dung này được áp dunhgj vào việc hình thành Khu chế xuất Tân Thuận dưới hình thức Công ty liên doanh trong đó anh Phan Chánh Dưỡng đại diện cho đối tác trong nước làm Phó Tổng Giám đốc. Và để thực hiện ý tưởng phát triển thành phố Hồ Chí Minh ra biển Đông, Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận sau đó được thành lập làm pháp nhân nghiên cứu và thực hiện các chương trình như đại lộ “Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh” nay là đại lộ Nguyễn Văn Linh, khu đô thị mới Nam thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghiệp Hiệp Phước…

Khi được khen viết bài xuất sắc, một thành viên trong Nhóm trả lời: “đừng khen tôi, chẳng qua tôi có nhu cầu phải viết thì viết, cũng giống như con gà mắc đẻ thì phải đẻ trứng vậy thôi. Đẻ ở đâu cũng không hay, đẻ rồi người ta mang đi để làm gì cũng không biết, họ luộc ăn hay đem đi ấp cũng chẳng quan tâm”. Có lẽ đây cũng là suy nghĩ chung của các thành viên Nhóm Thứ Sáu.

Giai đoạn 1990-1995: Dời đô

Đây là giai đoạn Nhóm phát triển về cả lượng lẫn chất mà cụ thể là thu hút thêm nhiều chuyên viên, trí thức, đồng thời tham gia vào đời sống kinh tế xã hội bằng cách tận dụng diễn đàn báo chí.

Thật ra việc tham gia viết báo của thành viên trong Nhóm đã manh nha từ năm 1987 khi ông Trần Trọng Thức lúc đó đang làm Trưởng ban Kinh tế Báo Tuổi Trẻ tham gia vào Nhóm nhân sĩ này. Vào thời điểm ấy, ông Thức đã tiếp xúc với ông Phan Chánh Dưỡng đề nghị hợp tác trên mặt trận báo chí mà thực chất là muốn tạo diễn đàn cho các chuyên viên kinh tế có quan điểm đổi mới về quản lý kinh tế.

Ông Phan Chánh Dưỡng (người ngoài cùng phía bên phải).

Thế nhưng ước muốn ấy gặp trở ngại từ phía báo Tuổi Trẻ, do đó mà mong muốn này không được thực hiện.

Đến khi ông Trần Trọng Thức, ông Hoàng Thoại Châu và một số trí thức khác về làm việc tại báo Lao Động thì quyết tâm này được thực hiện.

Bắt đầu từ đây địa điểm sinh hoạt dời về báo Lao Động vẫn mỗi tuần một lần vào tối thứ Sáu. Trên cương vị Thư ký Toà soạn và Trưởng ban Kinh tế, được sự đồng ý của Ban Biên tập báo Lao Động, ông Thức đã chính thức mời thành viên trong Nhóm về cộng tác với tư cách là cộng tác viên chuyên viên và dùng tờ báo làm diễn đàn để trình bày những quan điểm kinh tế thông thoáng theo hướng thị trường. Thế là một số đông chuyên viên kinh tế trở thành các nhà báo nghiệp dư, nhưng những bài viết của họ đã tạo được hiệu ứng xã hội rất cao.

Việc tham gia viết báo của Nhóm có lộ trình và có trọng tâm. Thời kỳ đầu của kinh tế thị trường vẫn còn vướng bận các tập quán và suy nghĩ của thời bao cấp, nên chủ trương của anh em trong thời kỳ từ năm 1990 đến 1992 là tấn công vào nhận thức và cách quản lý không còn phù hợp, chống tiêu cực kinh tế và tiêu cực trong kinh doanh. Đây là cách dọn sạch miếng đất chuẩn bị cho việc gieo hạt. Từ năm 1993, các bài viết giới thiệu và cổ vũ cho những suy nghĩ tiến bộ, đề xuất các hướng tháo gỡ, ủng hộ đổi mới.

Lúc này có thêm một số anh em chuyên viên tham gia với nhóm như Lê Ủy, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Ngọc Bích, Lê Trọng Nhi, Nguyễn Hoàng Sơn khiến các buổi gặp nhau hàng tuân càng đông vui.

Một số thành viên trong nhóm gồm Phan Chánh Dưỡng, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước được mời tham gia Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ. Lại có thêm điều kiện để họ đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước với vai trò tư vấn. Đến khi ông Võ Văn Kiệt không còn làm Thủ tướng thì Tổ tư vấn giải thể.

Giai đoạn 1995 – 2001: Trở về cố hương

Thời gian sinh hoạt tại báo Lao Động kéo dài được 5 năm. Sau khi các ông Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu và một số anh em rút khỏi báo Lao động vào cuối năm 1994 thì Nhóm chuyên viên lại trở về sinh hoạt tại Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận, nơi ông Dưỡng làm Giám đốc và sau đó là tại báo Thanh Niên Thời Đại, nơi quy tụ những anh em vừa rời báo Lao Động.

Sau đó nhóm có thêm hai điểm sinh hoạt khác khi aông Huỳnh Bửu Sơn về làm Tổng Giám đốc Ngân hàng VP và ông Hoàng Thoại Châu về làm Thư ký Toà soạn báo Lao Động và Xã hội. Nhưng rồi lại xảy ra chuyện vật đổi sao dời, sau vài năm hai nơi này không còn là đất dụng võ, kể từ đó anh em trở lại sinh hoạt tại Công ty Tân Thuận ở 210 Lê Hồng Phong (quận 5).

Anh em trong Nhóm Thứ Sáu thường nói đùa đây là giai đoạn trở về vùng đất yên lành vì sinh hoạt ổn định, tiếp tục nghiên cứu nhiều đề tài khác như Cải cách hành chính, ASEAN, Mười năm đổi mới, nhưng rõ ràng chất lượng không được như thời kỳ đầu. Một phần vì đa số anh em trong Nhóm nay đều ổn định công ăn việc làm (khác với 15 năm trước) nên đầu tư công sức không nhiều, một phần là có quá nhiều cơ quan nghiên cứu và thông tin nay không còn là thứ hiếm hoi khiến anh em dễ buông tay.

Tp Hồ Chí Minh ngày càng phát triển

Thời kỳ này, một số anh em Việt kiều thỉnh thoảng đến chơi mỗi khi về nước, nhưng rồi cuối cùng chỉ có một người gắn bó với nhóm đến ngày hôm nay là Trần Sĩ Chương

Từ giữa năm 2001, Nhóm cũng có nhiều công trình nghiên cứu đang ấp ủ như đi tìm lời giải đáp cho hướng phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long và thực trạng nghèo khó của nông dân tại vùng trọng điểm lương thực này. Nhóm cũng đang hình thành một dự án đầu tư xây dựng khu Đại học ở phía Nam Sài Gòn, nhưng tất cả đều đang ở phía trước.

Hồi tưởng lại thời gian đã qua. Từ đó đến nay, có những sự việc mà trước đây họ băn khoăn đặt ra, mong mỏi phải chi điều đó diễn ra thế này thế khác, thì giờ đây lấy làm mừng rằng có nhiều điều đã được thực hiện theo như đề xuất cả anh em và lại là một trong những điều thúc đẩy đất nước phát triển.

Đọc trong sách xưa, thấy những nhóm người trong giang hồ hay trong lịch sử kết với nhau vì một mục tiêu, một lý tưởng, cùng nhau đạt được một cái gì đó. Với Nhóm Thứ Sáu thì ngược lại, hơn hai chục năm gắn bó với nhau không có mục đích gì rõ rệt, chỉ quý nhau về tư cách, trọng nhau về kiến thức, mỗi người mỗi vẻ, am tường các lĩnh vực khác nhau, vậy là tập hợp lại. Khi cùng nhau bàn luận, thấy nên làm điều này điều kia để đóng góp với đời, thế là bắt tay vào làm một cách bất vụ lợi, nếu có kết quả thì tốt, không thì cũng chẳng làm hại ai.

Ông Lâm Võ Hoàng có một câu rất hay mà anh em trong nhóm tâm đắc. Khi có người khen viết bài xuất sắc thì ông trả lời: “Đừng khen tôi, chẳng qua tôi có nhu cầu phải viết thì viết, cũng giống như con gà mắc đẻ thì phải đẻ trứng vậy thôi. Đẻ ở đâu cũng không hay, đẻ rồi người ta mang đi để làm gì cũng không biết, họ luộc ăn hay đem đi ấp cũng chẳng quan tâm”.

(Theo Tuần Việt Nam)

Ukraina trong dự cảm nội chiến

“Một lần nữa máu lại đổ ở Ukraina. Nước này đang trong dự cảm một cuộc nội chiến. Điều đó thật đáng buồn”, – Thủ tướng Nga Dmitri Medvedev viết trên trang Facebook cá nhân của mình.

“Nguyên nhân của thảm kịch Ukraina là do chính quyền hợp pháp thậm chí còn không cố gắng duy trì trật tự pháp luật tại một số khu vực của đất nước, nơi bắt đầu nổ ra những cuộc chiếm giữ trụ sở các cơ quan chính quyền. Còn những kẻ cầm quyền bất hợp pháp, ngược lại, đang hy vọng sẽ khôi phục lại cái trật tự mà chính họ đã bất chấp đạo lý chà đạp lên để nắm lấy chính quyền sau một cuộc nổi dậy vũ trang. Và bây giờ họ đang phải chịu hậu quả gậy ông đập lưng ông.” – Thủ tướng Medvedev nhận xét.

Thủ tướng Medvedev. Ảnh : RIA Novosti

“Thật đáng thương cho những người đang phải làm con tin cho các chính trị gia bất tài, mà họ đâu có bầu chọn lên, đáng thương cho cả các phần tử cực đoan vô trách nhiệm phải thay thế cho cảnh sát và quân đội”, – Thủ tướng Nga viết.

Cuộc khủng hoảng ở Ukraina có vẻ như đã đi đến điểm mốc không thể thoái lui.

Từ nhà Quốc hội (Verkhovna Rada), quyền Tổng thống Ukraina ông Alexander Turchinov đã đưa ra một tuyên bố được trông đợi và lo sợ. Ông Turchinov nói rằng đã bắt đầu chiến dịch quân sự ở phía bắc tỉnh Donetsk. Không có thông tin chi tiết nào: không có tên của các khu dân cư, cũng không có một hoạt động nào cụ thể. Sử dụng cách diễn đạt “khu vực tiến hành chiến dịch chống khủng bố”.

Những “kẻ khủng bố”, theo ngụ ý của Kiev, đó chính là những dân thường đang trấn giữ các tòa nhà của chính quyền tại hàng chục thành phố nhằm thu hút sự chú ý đến nhu cầu của họ. Mọi người yêu cầu phải có quy chế quốc gia cho tiếng Nga và tổ chức trưng cầu dân ý về thể chế Nhà nước. Những người biểu tình đã có những động thái để chính quyền không thỏa hiệp.

Một vài ngày trước, tại tỉnh Donetsk, xe tăng đã bị chặn lại. Những người xuống đường bảo vệ thành phố chìa ra những đôi bàn tay trần trụi. Những hình ảnh tương tự cũng được chuyển đến từ tỉnh Donetsk.

Người biểu tình ở phía đông nam

Ngay tại Slavyansk, thông tin về việc nổ súng tại chốt kiểm soát bị bác bỏ. Trái ngược với các tin tức từ truyền thông, hiện người biểu tình chưa bị tấn công, nhưng người dân địa phương vẫn đang tiếp tục củng cố các rào chắn.

Quân đội Ukraina đang tấn công sân bay gần thị trấn Kramatorsk ở miền đông Ukraina, đã có những người bị thương đầu tiên trong số dân quân tự vệ, các đại diện của phe ủng hộ liên bang hóa Ukraina tuyên bố.

“Những đại diện của quân đội Ukraina trên xe thiết giáp đã di chuyển đến gần sân bay quân sự nằm giữa Kramatorsk và Slavyansk và đột ngột bắt đầu nổ súng”,- đại diện dân quân tự vệ Kramatorsk thông báo với hãng tin RIA qua điện thoại.

Trong số lực lượng dân quân có người bị thương, có khả năng có người chết, những dân quân còn lại đang chặn các lối vào Kramatorsk và sẵn sàng chống trả cuộc tấn công, người đối thoại của hãng tin nói thêm.

Quân đội tấn công sân bay Kramatorsk ở miền đông Ukraina

Theo thông báo của đại diện dân quân Donbass Sergei Zyplakov với RIA Novosti, quân đội Ukraina đang tiến vào Slavyansk và chuẩn bị tấn công.

“Hiện đang có một cuộc tấn công nghiêm trọng vào thành phố Slavyansk, các xe thiết giáp đang tiến vào thành phố, có rất nhiều quân. Mọi người đang chuẩn bị phòng thủ”,- nhà hoạt động thông báo.

Sở cảnh sát ở Horlivka là một trong những nơi bị nhóm biểu tình thân Nga tấn công

Theo tuyên bố của Điện Kremlin thì bạo loạn ở miền đông Ukraine là kết quả của việc ‘chính quyền Kiev không sẵn sàng và không có khả năng xét đến lợi ích của cộng đồng nói tiếng Nga’.

CTV Việt Nga (Theo VOR, BBC )

Những thông tin bất ngờ về bầu Kiên trước giờ xét xử

Con nhà giáo, học quân sự, khởi nghiệp với nghề dệt may, nhưng bầu Kiên lại lại “bật” lên hàng những đại gia có tiếng với nghiệp ngân hàng.

Tuy nhiên, để cái tên “Kiên đầu bạc” vang danh phải kể đến những phát ngôn gây sốc, những cú “vung tiền” mạnh tay của ông bầu này trong ngành bóng đá.

Đầu bạc vì… giá vàng

Người đàn ông có gương mặt già trước tuổi này được gắn với rất nhiều tên gọi: bầu Kiên, Kiên “đầu bạc”, Kiên “lùn”… Nhưng có lẽ hình ảnh Kiên “đầu bạc” đã khiến ông trở nên nổi bật, khác biệt so với nhiều ông bầu khác.

Bầu Kiên nổi bật với mái tóc bạc và những phát ngôn gây choáng

Bầu Kiên nổi bật với mái tóc bạc và những phát ngôn gây choáng

Theo lý giải của một tờ báo thì mái tóc bạc trắng của Nguyễn Đức Kiên có lý do gắn với…giá vàng. Theo tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn, bầu Kiên bắt đầu kinh doanh vàng tài khoản từ năm 2008.

Tổng giám đốc một ngân hàng kể: “Năm 2009-2010 đi đâu cũng thấy ông Kiên kè kè một cái điện thoại và 5-10 phút lại nhìn vào đó để xem sự biến động giá vàng thế giới”.

Vàng đã biến tài sản của bầu Kiên thành con số âm. Những đêm không ngủ theo dõi thị trường vàng thế giới (do múi giờ của châu Âu, Mỹ lệch với Việt Nam) là thủ phạm gây bạc tóc. Kể từ đó “ông đầu bạc” trở thành biệt danh của bầu Kiên.

Tài sản của bầu Kiên vẫn là một ẩn số

Sở hữu khối tài sản khổng lồ, người ta nghĩ ông phải có gia đình giàu có “chống lưng” nhưng bầu Kiên lại sinh ra trong một gia đình có truyền thống dạy học. Ông sang Hungary học về kỹ thuật quân sự nhưng năm 1986 về nước lại làm… cán bộ Tổng công ty Dệt may, Bộ Thương mại.

Cũng rất bất ngờ, năm 1994, Nguyễn Đức Kiên khi đó mới… 30 tuổi đã trở thành Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập của Ngân hàng Á Châu (ACB) – một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất Việt Nam. Trước khi thôi làm thành viên HĐQT của ACB, ông Nguyễn Đức Kiên cùng vợ và 3 người em nắm giữ 9,03% vốn điều lệ, trong đó riêng ông là 3,8%.

Năm 2010, ông Kiên lọt vào danh sách 100 người giàu nhất Việt Nam với tài sản 805,9 tỷ đồng, ít hơn năm 2008 gần 200 tỷ. Còn tổng số tài sản của gia đình ông Kiên (tính theo thị trường chứng khoán năm 2010 là khoảng 2.000 tỷ đồng).

Nói về tài sản của bầu Kiên người ta chỉ biết đến “bề nổi” là biệt thự lung linh của ông ở Hồ Tây hay xe Bentley trị giá hơn 10 tỉ đồng, xe Rolls-Royce Phantom phiên bản Rồng …khi ông đến sân Hàng Đẫy xem CLB Hà Nội thi đấu, còn thực hư khối tài sản của người đàn ông này đến nay vẫn là một ẩn số.

Một ông bầu cá tính

Trong giới bóng đá, ông Nguyễn Đức Kiên – chủ của CLB bóng đá Hà Nội – được biết đến là một ông bầu bạo ngôn và bạo chi. Trong làng bóng đá, ông Kiên nhanh chóng nổi danh bởi 4 điểm gây sốt.

- Thứ nhất là chỉ trích mạnh mẽ VFF: Buổi tổng kết mùa giải 2011 của VFF đã trở thành diễn đàn riêng của “bầu” Kiên, với bài phát biểu “vô tiền khoáng hậu” chỉ trích gần như mọi vấn đề còn tồn tại, mọi “ung nhọt” của bóng đá Việt Nam trên hành trình tiến lên chuyên nghiệp.

Bầu Kiên từng vung tay "mua" Công Vinh với giá kỷ lục

Bầu Kiên từng vung tay "mua" Công Vinh với giá kỷ lục

- Thứ hai là thành lập VPF và cuộc chiến bản quyền truyền hình: Có thể nói, “bầu” Kiên đóng vai trò then chốt trong việc thành lập VPF, nó giúp các ông chủ các đội bóng thực sự làm chủ cuộc chơi và đẩy VFF về hậu trường. Cú áp phe đầu tiên của VPF chính là “cuộc chiến” bản quyền truyền hình với AVG, điều nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận và khiến báo chí tốn rất nhiều giấy mực.

- Thứ ba là bất ngờ mua Công Vinh với giá kỷ lục: Có thông tin cho rằng giá chuyển nhượng của Công Vinh lên tới 13 tỷ đồng, có tin lại nói chỉ dưới 10 tỷ đồng. Nhưng bất luận là thế nào, chắc chắn ông Kiên cũng mất một số tiền không nhỏ để sở hữu tiền đạo số 1 Việt Nam lúc đó.

- Ngoài ra, bầu Kiên lần nào đăng đàn phát biểu trong giới bóng đá thì ông chủ của CLB Bóng đá Hà Nội đều gây sự chú ý. Những phát ngôn đáng chú ý đóng mác bầu Kiên có thể kể ra là: “VPF giống như cô gái mới lớn, chưa nhìn nhan sắc mà người ta đã cứ tập trung chỉ ra cái sẹo của cô ta”.

Tháng 9/2011, trong lễ tổng kết mùa giải của VFF, bầu Kiên công kích VFF với những câu nói: “Bóng đá Việt Nam bao cấp hơn mọi bao cấp”. Bên cạnh đó là: “Không ít người tiếp xúc với tôi bảo rằng cần phải lo trọng tài nhưng tôi luôn nói với anh em: Một đồng cũng không bao giờ cho”.

Trước “cuộc chiến” bản quyền gay gắt giữa AVG và VPF, bầu Kiên tuyên bố: “Chúng tôi coi đài AVG giống như các đài truyền hình địa phương…”.

Trong buổi lễ Tổng kết V-League 2011, Chủ tịch câu lạc bộ Hà Nội ACB này phát biểu nhằm vào VFF và hội đồng trọng tài V-League 2011: “Các anh mời chúng tôi đến đây mà đưa ra bản báo cáo như vậy thì chúng tôi không phải học sinh lớp 1, lớp 2″.

Thú vui tao nhã: Mê mẩn nghe nhạc diva

Bên cạnh một hình ảnh người đàn ông bí ẩn và quyền lực thì ông bầu Nguyễn Đức Kiên cũng có những giây phút rất đời thường khi cùng vợ đi nghe ca nhạc. Cưỡi xe máy ăn đồ trên phố cùng người đàn bà đầu ấp tay kề cũng là sở thích bình dị của ông trùm quyền lực.

Ông cũng là mạnh thường quân nổi tiếng, từng chi không tiếc tiền cho một số chương trình ca nhạc

Ông cũng là mạnh thường quân nổi tiếng, từng chi không tiếc tiền cho một số chương trình ca nhạc

Khác với vẻ mặt đăm chiêu tính toán trong kinh doanh hay “cau mày, quát tháo” trên sân cỏ, bầu Kiên rất tươi tỉnh khi đi xem ca nhạc. Ông Kiên có cái thú đặc biệt là đi xem những liveshow âm nhạc của các diva hàng đầu Việt Nam. Thỉnh thoảng người ta vẫn thấy “gã đầu bạc” tay trong tay với vợ đến Nhà hát lớn (Hà Nội) nghe nhạc.

Được biết, giới văn nghệ sĩ đều biết ông là một trong những mạnh thường quân nổi tiếng, từng chi không tiếc tiền cho một số chương trình ca nhạc, đồng hành của nhiều ngôi sao, diva nổi tiếng.

Theo dõi thêm thông tin về vụ án Bầu Kiên

(Theo  Vietnamnet)

Có những con đường hòa giải hòa hợp để yêu thương

Có hận thù được hóa giải ngay sau bao nhiêu máu đổ. Có hận thù muốn hàn gắn phải mất vài thập kỷ. Xóa bỏ hận thù để hòa hợp và yêu thương, cũng là một cách nhân loại giúp nhau phát triển.

Cuối tuần trước, tôi đưa bọn trẻ ra chơi trên Quảng trường quốc gia (National Mall) ở Washington DC. Nơi đây, mỗi tượng đài, nhà tưởng niệm, khu vườn, viện bảo tàng hay hồ Tidal Basin đều mang một ý nghĩa đặc biệt.

National Mall. Ảnh: HM

Thả hồn trên quảng trường, chợt nghĩ về số phận các dân tộc được định đoạt khác nhau và đưa đến vị thế khác nhau chỉ vì cách hòa hợp và yêu thương rất khác nhau.

Chiến tranh Triều Tiên – nỗi ám ảnh 6 thập kỷ

Người viết bài này nhớ lại lần đầu đến thăm bức tường chiến tranh Triều Tiên. Ai mới nhìn qua cũng có thể biết sự khốc liệt của cuộc chiến vẫn còn đó. Tượng những người lính cầm súng xung trận, cuộc chiến tranh liên Triều khốc liệt vẫn như hiện lên trước mắt. Giống một ám ảnh, một định mệnh, tượng đài chiến tranh như chưa hề tan khói thuốc súng, nên tới nay bóng ma chiến tranh vẫn thoắt ẩn hiện, dù đã 60 năm trôi qua.

Bức tường chiến tranh Triều Tiên.

Sau sáu thập kỷ, Triều Tiên vẫn bị chia cắt. Chưa có hòa giải dân tộc nào thành công. Năm 1950, quân đội Bắc Triều Tiên tấn công Nam Triều Tiên để giải phóng đất nước. Liên Xô, Trung Quốc, rồi Mỹ tham chiến. Cuộc chiến tranh hao người tốn của cho cả hai phía cuối cùng vẫn kết thúc ở vĩ tuyến 38 như trước.

Bức tường Chiến tranh Việt Nam

Bom đạn dường như lúc nào cũng sẵn sàng nổ trên đất nước này. Xót xa hơn, trong thế kỷ 21 mà hàng chục triệu người dân vẫn sống nghèo khổ, một phần vì người ta chưa biết bao dung, tha thứ, đoàn kết, hòa hợp và yêu thương.

Bao nhiêu nước mắt đã rơi trên con đường nhỏ dưới chân tường hình chữ V. Có biết bao nhiêu người Mỹ đã từng chua xót, ngậm ngùi… khi đứng trước bức tường im lặng mà nói lên rất nhiều điều về kiếp người mỏng manh trước những hận thù, để chỉ nhìn thấy họ tên người thân yêu của mình, những người lính buộc phải chết trận cho những tham vọng… không phải của mình.

Bức tường Chiến tranh Việt Nam

Họ tên 58 ngàn lính Mỹ tử trận được khắc lên những tấm đá hoa cương. Và cuộc chiến ấy cũng đã để lại mất mát vô cùng to lớn cho Việt Nam với mấy triệu người ngã xuống.
Đã có ba triệu du khách tới thăm viếng bức tường im lìm này hàng năm. Dù mùa Đông giá lạnh hay ngày Hè nóng bức, dù mùa Xuân hoa nở hay mùa Thu lá vàng. Chỉ nhìn những tấm đá lạnh lẽo cũng đủ thấy sự ám ảnh, sự lạnh buốt của cái chết và sự khốc liệt của cuộc chiến bên kia đại dương.

Suy ngẫm. Ảnh: NV Quang

Người Mỹ đã hòa giải với Việt Nam. Ở thế giới bên kia, linh hồn những người tử trận của hai phía đã làm bạn với nhau và quên cả cuộc chiến tranh đó rồi. Nhưng trên mặt đất, đâu đó vẫn còn sự chia rẽ trong lòng của kẻ ở người đi, về mầu cờ hay bài hát. Chiến tranh đã lùi xa, thế nhưng hậu quả nặng nề vẫn còn khắp nơi. Bom mìn sót lại là nỗi ám ảnh cái chết rất có thể xảy ra bất ngờ ngay khi cuộc sống đã bình yên, và người ta đã tính, phải mất 400 năm nữa, mới có thể dọn sạch. Di chứng da cam để lại hệ lụy bi thảm cho hàng triệu người.

Hải quân Mỹ đến thăm Việt Nam

Vẫn còn tiếng vọng về hận thù làm át đi ý định hàn gắn. Đó mới là thứ bom mìn hay di chứng da cam nguy hiểm, dù trên bức tường chiến tranh không hề có biểu tượng súng ống. Chỉ có những phiến đá in rõ cả bầu trời lẫn hàng cây xanh.

Thế chiến thứ 2 và sự hòa nhập của Châu Âu

Nằm gần giữa National Mall là Đài tưởng niệm Chiến tranh Thế giới thứ hai với biểu tượng 50 bang nước Mỹ. Nửa triệu lính Mỹ đã bỏ mạng. Quanh đài phun nước hoành tráng hình bầu dục, du khách tưởng mình đang hòa nhập với thế giới hòa bình.

Cách đây hàng thế kỷ, người Đức từng tự hào là dân tộc thượng đẳng, không chấp nhận dân Do Thái thông minh hay quí tộc Ba Lan được sống chung dưới một bầu trời. Xích sắt của xe tăng, đại bác nổ đã cướp đi sinh mạng mấy chục triệu người.

Dân Do Thái bị thiêu trong lò. Người Ba Lan bị giết hại khoảng 6 triệu người, bằng 1/5 dân số. Sự căm thù đối với nước Đức là tột cùng.

Nhưng rồi đên một ngày, nước Đức phải giơ cờ trắng ra hàng Hồng quân Liên Xô ngay tại sào huyệt của chủ nghĩa phát xít. Nước Đức chia đôi bởi bức tường Berlin. Tây Berlin phát triển theo đúng qui luật kinh tế thị trường, Đông Berlin dù mạnh nhất phe XHCN cũng không thể nào sánh nổi với Tây Đức.

Ngày thống nhất nước Đức cuối cùng đã đến, dù muộn hơn 45 năm so với sự hòa giải Mỹ-Nhật. Ước mong thống nhất, tình yêu thương đã làm nên nước Đức hùng mạnh ngày nay.

Đài tưởng niệm thế chiến II. Ảnh: HM

Ba Lan, Tiệp khắc, Hungari cùng với các nước Tây Âu lập nên EU, một “quốc gia” châu Âu bao gồm các quốc gia, một sức mạnh kinh tế và quân sự của thế giới. Kẻ gây ra chiến tranh đã hối cải, sát cánh với những nạn nhân, quên quá khứ, hướng tới tương lai nên mới có hàng chục quốc gia tiêu chung đồng tiền euro và đi lại không cần visa.
Ý thức hệ Đức thượng đẳng, mặt trời nước Anh không lặn, niềm kiêu hãnh thuộc địa của Pháp, cuối cùng, đã không còn chỗ đứng trong EU này.

Tidal Basin – hồ nước yên bình hóa giải mối hận thù

Để có những cánh hoa mỏng manh rơi trên mặt hồ Tidal Basin phẳng lặng, hai dân tộc Mỹ – Nhật đã phải trải qua những sóng gió dài hàng thế kỷ. Khi tháng Tư và mùa Xuân về, hàng triệu du khách dạo quanh hồ Tidal Basin ngắm hoa anh đào Nhật nở rực rỡ giữa thủ đô Washington DC. Rất nhiều người từ Tokyo bay sang tận đây để chiêm ngưỡng những bông hoa có nguồn gốc từ chính đất nước họ. Thật lạ lùng, anh đào Nhật trồng bên DC, nở đẹp hơn trên núi Phú Sỹ.

Hoa đào bên hồ Tidal Basin, hóa giải những hận thù. Ảnh: Ngọc Dung

Năm 1912,  thành phố Tokyo tặng Washington DC một món quà 3000 cây hoa anh đào, thể hiện mối tình hữu nghị những năm tháng êm đềm. Sau Thế chiến II, vào năm 1965, người ta trồng thêm 3800 cây nữa để phủ kín xung quanh bờ hồ, những mong hoa anh đào giúp xoá đi nỗi đau chiến tranh tàn khốc giữa hai dân tộc.

Ngày 7-12-1941, người Nhật bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng, phá tan căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại đảo Hawaii. Đây là trận đánh đi vào lịch sử chiến tranh thế giới thứ II và cũng mở đầu cho cuộc chiến Mỹ-Nhật. Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố: “Ngày 7 tháng 12 năm 1941 sẽ mãi là một ngày ô nhục”.

Sau đó là cuộc chiến cướp đi sinh mạng hàng triệu người và được kết thúc bởi hai trái bom nguyên tử ném xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki. Khoảng hai trăm ngàn người bị thiêu cháy hoặc vùi trong đống gạch vun.

Thấy đất nước hoang tàn, vua Chiêu Hòa bất ngờ lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Đó là bước ngoặt của người da vàng dù người Nhật tưởng mặt trời  không bao giờ tắt trên đất nước mình. Người Nhật vốn trọng nghĩa khí, thất bại trên không thể chấp nhận được. Cả dân tộc được nuôi dưỡng trong huyền thoại Thiên Chiếu Đại Thần.

Thiên Hoàng chuyển sang thành người của dương gian để hòa hợp hàng triệu người thất trận. Tướng Douglas MacArthur, chỉ huy lực lượng Đồng Minh, biết quên đi nỗi ô nhục Trân Châu Cảng, không truy tố vị vua nước Nhật.

Đó chính là chiếc chìa khóa mở ra tương lai cho một quốc gia bại trận tiến lên, trở thành cường quốc kinh tế thế giới sau 30 năm phát triển. Thủ đô Washington có thêm những cây anh đào, hoa nở đẹp mê hồn mỗi khi xuân đến bên Tidal Basin.

Phải chăng đó là sự hóa giải lòng hận thù thành tình hữu nghị vĩ đại nhất sau thế chiến thứ hai?

Hòa hợp để Yêu thương

Hòa hợp để yêu thương thế nào ư? Vừa dễ mà cũng vừa khó. Dễ vì bắt đầu lúc nào cũng được, nhưng khó nhất là con người ta có dám làm không. Ai, dân tộc nào, cộng đồng nào dám từ bỏ một định kiến cá nhân bằng một phổ quát toàn cầu, thay xây hạnh phúc quốc gia bằng hòa hợp và hữu hảo với cả thế giới?

Nếu tiếp tục sự ích kỷ của một người, một cộng đồng, hay một quốc gia thì sự chia cắt đất nước như bán đảo Triều Tiên sẽ còn mãi. Đau khổ trong chia ly thuộc về người dân, mất mát và đổ máu cũng thuộc về người dân.

Đoàn Việt kiều lần thứ ba đi thăm Trường Sa: Vòng tay hòa giải đang được siết chặt

Người Nhật tự do bay sang DC ngắm hoa anh đào vì đã biết xóa bỏ quá khứ đau đớn, dùng đó cho bài học tương lai.

Mải nghĩ, ba cha con tôi quay về bức tường chiến tranh Việt Nam lúc nào không biết. Những tấm đá như chìm dưới mặt đất, chôn đi quá khứ phũ phàng. Vài người cựu chiến binh già lặng lẽ tìm gì đó trên tường, thấy cả bóng mình và đất trời trong đó. Châu Âu không cần visa và tiêu một đồng tiền chung vì mười mấy quốc gia đã ngồi cùng nước Đức gây bao tội ác để bàn về một thứ mà cả nhân loại mong đợi, đó là toàn cầu hóa và hội nhập.

Có thể họ đang suy ngẫm về những gì đã mất, làm gì để đau thương ngày hôm qua không còn đeo đuổi.

Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc 39 năm. Nếu không biết hóa giải hận thù, xóa bỏ những định kiến cá nhân, để đặt quyền lợi dân tộc lên trên, thì chính người đang sống đã vô ơn những người đã khuất.

Máu của người đã trở về vĩnh viễn trong cát bụi hẳn không phải để nuôi dưỡng sự hận thù. Người nằm lại chiến trường cũng chính là để mầm sống nảy nở, đơm hoa kết trái, giúp cho sự hòa hợp để yêu thương đến sớm hơn với đồng loại.

(Theo Hiệu Minh)

(Ban biên tập đã biên tập lại nội dung cho phù hợp)